tin tức từ các đơn vị

THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ TO LỚN
Ngày đăng 06/12/2017 | 10:08

1. Sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng ta đã quán triệt sâu sắc học thuyết Mác - Lê nin về bạo lực cách mạng của giai cấp vô sản. Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng đã khẳng định con đường đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc là dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền và yêu cầu phải tổ chức lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh cách mạng. Trong Chính cương vắn tắt của Đảng (02/1930) do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo đã đề cập đến việc “Tổ chức ra quân đội công nông”. Luận cương chính trị của Đảng (10/1930) cũng chỉ rõ nhiệm vụ: “Vũ trang cho công nông”, “Lập quân đội công nông” và “Tổ chức ra đội tự vệ công nông”. Trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, từ lực lượng khởi nghĩa của công - nông, Đội tự vệ công nông (Tự vệ Đỏ) đã ra đời. Đó là nền móng đầu tiên của lực lương vũ trang cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 9 năm 1939, trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, các cuộc khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích đã diễn ra trên nhiều địa phương. Hàng loạt tổ chức vũ trang lần lượt được thành lập và phát triển như : Du kích Nam Kỳ (1940), Đội du kích Bắc Sơn (1941), Cứu quốc quân (1941)... Phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Sự trưởng thành nhanh chóng của các tổ chức vũ trang quần chúng đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc.

Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập theo Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trong Chỉ thị, Người ghi rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền”; “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam…”. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 người, biên chế thành 03 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ của Đảng quyết định hợp nhất các tổ chức vũ trang trên cả nước (hợp nhất Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các tổ chức vũ trang khác), thành lập Việt Nam giải phóng quân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ quốc đoàn, rồi Quân đội quốc gia Việt Nam (năm 1946), đến năm 1950 được đổi tên là Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với quá trình ra đời và phát triển như vậy, ngày 22-12- 1944 được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

2. Ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của việc thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam

Thực tiễn 73 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh rõ ý nghĩa to lớn và giá trị lịch sử của việc thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đã kịp thời đáp ứng những đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc trong những năm đầu của thập niên 40, thế kỷ XX. Đặc biệt Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là văn kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là một bản Chỉ thị ngắn gọn nhưng chứa đựng những tư tưởng ở tầm chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quân sự, chính trị, về chiến tranh nhân dân, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng quân đội cách mạng - một đội quân của dân, do dân và vì dân.

Những chỉ dẫn trong bản Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định rõ nguyên tắc tổ chức, hoạt động của đội quân chủ lực ngay từ ngày đầu thành lập; nhất là việc chỉ rõ nguyên tắc lấy “chính trị làm gốc”, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đó là cơ sở để coi trọng nhân tố con người trong xây dựng quân đội. Những định hướng, chỉ dẫn đó đã đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, khắc phục những biểu hiện nóng vội, chủ quan, phiến diện trong xây dựng LLVT cách mạng và đấu tranh cách mạng thời kỳ cả nước chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Không chỉ có ý nghĩa soi sáng quá trình xây dựng, phát triển của quân đội trong 70 năm qua, Chỉ thị còn là “cẩm nang” quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt nam hiện nay.

Sự trưởng thành và những cống hiến xuất sắc của lớp lớp chính ủy, chính trị viên, của đội ngũ CBCT trên khắp các chiến trường, ở mọi đơn vị trong toàn quân là những minh chứng rõ ràng nhất cho giá trị lịch sử của Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kết tinh trong Chỉ thị nhất là tư tưởng về việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị và bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội là vấn đề quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”./.

Phòng Văn hóa và Thông tin