di tích danh thắng

Cột cờ Hà Nội
Ngày đăng 23/05/2014 | 00:00

Đứng sừng sững, uy nghi ngay bên dãy chẵn của đường Điện Biên Phủ thuộc quận Ba Đình- Hà Nội, Cột cờ Hà Nội được xây dựng từ năm 1805 trên phần đất phía Nam của Hoàng thành Thăng Long

Đứng sừng sững, uy nghi ngay bên dãy chẵn của đường Điện Biên Phủ thuộc quận Ba Đình- Hà Nội, Cột cờ Hà Nội được xây dựng từ năm 1805 trên phần đất phía Nam của Hoàng thành Thăng Long

Đứng sừng sững, uy nghi ngay bên dãy chẵn của đường Điện Biên Phủ thuộc quận Ba Đình- Hà Nội, Cột cờ Hà Nội được xây dựng từ năm 1805 trên phần đất phía Nam của Hoàng thành Thăng Long. Thực ra, phải gọi là Kỳ đài mới đủ nghĩa (kỳ: cờ, đài: nhà làm cao để có thể nhìn xa, nhìn rộng được). Thêm vào đó, trong hệ thống phòng thủ của thành nhà Nguyễn, Kỳ đài còn có chức năng là Vọng canh, vì theo trục Bắc, Nam, kiến trúc này chỉ cách Đoan Môn khoảng 300m, điện Kính Thiên 500m và Cửa Bắc chừng gần 1000m. Từ trên đỉnh của Kỳ đài có thể quan sát cả một vùng khá rộng trong và ngoài khu thành cổ.

Nhìn tổng thể Cột Cờ (Kỳ đài), gồm những khối lăng trụ xếp chồng nhau, thu nhỏ và cao dần từ dưới lên trên, bố cục cân đối ấy tạo nên những đường nét thẳng, khoẻ khoắn, vững vàng. Đứng dưới chân Cột Cờ, dù cảm thấy đỉnh cao nhất, nhưng không hề có cảm giác nặng nề, mà trái lại, vẻ dáng của nó hài hoà, thanh thoát giữa các tam cấp, thân cột và vọng canh. Ở mỗi cấp, tường xây được trang trí bằng những hoa văn khác nhau, tuy đơn giản nhưng lại tạo ra những đường nét mềm mại và vẻ đẹp riêng cho từng cấp. Đáng chú ý là cấp thứ ba bố trí 4 cửa theo hướng đông, tây, nam, bắc. Những cửa này thông với nhau qua cửa tò vò, tạo nên nhiều phòng nhỏ có trần vòm cuèn. Tại trần nhà của cửa hướng Bắc có hai lỗ thông lên mặt sân thượng, có thể là ống truyền âm từ trên xuống (dạng loa miệng). Trừ cửa hướng Bắc, các cửa khác đều có tên riêng. Cửa hướng đông tên là Nghênh Húc (đón ánh sáng ban mai), Cửa hướng Tây tên là Hồi Quang (nhìn về hoàng hôn), cửa hướng Nam tên là Hướng Ninh (trông theo ánh mặt trời). Việc đặt tên cho mỗi cửa có ý nghĩa trong việc lợi dụng triệt để ánh sáng tự nhiên trong kiến trúc mà ông cha ta thường quan tâm chú ý. Cửa đông giúp cho công trình này có được ánh sáng buổi sớm, cửa tây đón ánh sáng buổi chiều, còn cửa Nam tiếp nhận ánh sáng ở những thời điểm mà hai cửa kia không tiếp nhận được, hoặc để đón ánh sáng ở khoảng trung gian. Như ta đã biết, do trái đất xoay xung quanh mặt trời và trục trái đất nghiêng theo hình Bắc - Nam, vì thế cửa hướng Nam nhận được nhiều ánh sáng nhất trong ngày, nhưng ánh sáng đó có chiếu xiên chứ không trực tiếp thẳng như của §ông và Tây. Ở cöa hướng Bắc được bố trí hai cầu thang lên sân thượng phía bên phải và trái, mỗi cầu thang gồm 14 bậc, có tay vịn bằng sắt. Sân thượng được bao quanh bằng lan can gỗ cùng với tường hoa trổ những hình lục giác có hình vuông ở giữa, được đan lồng với nhau trông tựa hình mạng nhện. Muốn lên được väng canh phải qua cửa tò vò, hai bên có 2 cầu thang xếp cân đối, mỗi cầu thang có 54 bậc, bề ngang chỉ vừa một người đi. tuy thế, nhờ có các lỗ thông hơi chạy xung quanh thân cột nên ánh sáng tự nhiên và không khí lóc nào cũng được thông thoáng. Vọng canh có cấu trúc như một lầu gác, trên có mái che và tương ứng với 8 diện tường là 8 cửa sổ, có thể chứa đủ 5 - 6 người đứng quan sát. Phần mái nhìn giống như hình nón đội, xương mái làm bằng bê tông cốt thép, lợp ngói, và giữa đỉnh mái có cột sắt cùng với dòng dọc để treo cờ.

Theo các nguồn sử liệu cho biết thì Gia Long cho phá thành Thăng Long để xây thành mới kiểu Vô - băng với sự tận dụng triệt để nguyên vật liệu cũ. Gạch vồ thời Lê đã được sử dụng chủ yếu vào việc ốp tường tam cấp; còn những loại nguyên liệu xi măng, sắt thépchứng tỏ Cột Cờ đã qua nhiều lần tu sửa sau này.

Cũng giống như ở những kiến trúc nhà cửa, chùa chiền, cung đình…mặt tiền của Cột Cê quay về hướng Nam. Việc chọn hướng như vậy vừa theo quan niệm thông thường "Vợ hiền hoà, nhà hướng Nam". Đồng thời cũng phản ánh việc tuân thủ nghiêm ngặt ý thức hệ phong kiến: "Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ" (Bậc thánh nhân quay về hướng Nam để nghe thiên hạ).

Kiến trúc mặt bằng hình vuông của Cột Cờ là kiểu thức truyền thống của dân tộc và cũng là đặc thù của thời Nguyễn. Như một học giả phương Tây là Bơ - za - xi - ê đã viết: "Mặc dù những phương thức mới của người Pháp đưa sang, các Hoàng đế Việt Nam thường vẫn duy trì đồ án hình vuông". Đây có thể coi là kiểu kiến thức quân sự, có chức năng canh phòng, thông tin, do đó không thể bắt gặp những đường cong, nét lượn hay những trang trí cầu kỳ như ở cung đình, đền, chùa. Ngược lại, đường nét đơn giản, dứt khoát của những khèi tứ diện đều đã tạo nên sự khoẻ khoắn, vững vàng cho một công trình có tầm cao 60m, chu vi gần 2000m.

Bỏ qua một bên sự bạc nhược của triều đình nhà Nguyễn trong việc chống thực dân Pháp xâm lược, có thể thấy rằng Cột Cờ là kết tinh của thành quả lao động đầy sáng tạo của quần chúng nhân dân, là cột mốc đánh dấu sự phát triển của lịch sử ngành kiến trúc và xây dựng của Việt Nam, trong đó nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò là người khởi xướng mà thôi.

Với tư cách là một di tích lịch sử thời Nguyễn còn tương đối nguyên vẹn nhất trong khu vực Hoàng thành Thăng Long kể từ đầu thế kỷ XIX đến nay, Cột Cờ Hà Nội vẫn là một trong những biểu tượng của Thủ đô - trung tâm chính trị- kinh tế, văn hoá của cả nước.

Hình tượng Cột Cờ còn được chọn làm mẫu trên các áp phích, con tem, bìa sách…và in đậm trong trái tim mỗi người Việt Nam. Vào những ngày lễ, ngày tết cổ truyền, Cột Cờ Hà Nội lại được trang hoàng lộng lẫy trong ánh điện lung linh, tôn thêm lên lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc đang lồng lộng tung bay trên vẻ rêu phong cổ kính của Kỳ đài./.