di tích danh thắng

Đền Quán Thánh - Trấn Bắc kinh thành Thăng Long
Ngày đăng 14/08/2019 | 14:17

Đền Quán Thánh là một trong Thăng Long tứ trấn bên cạnh Đền Bạch Mã, Đền Voi Phục và Đình Kim Liên.

Đền đư­ợc lập từ khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (1010). Vua cho rư­ớc bài vị của thần về ở phía Tây Bắc thành, gọi là Huyền Thiên Trấn Vũ đại đế quán. Quán là nơi thờ tự của đạo Giáo, dân chúng quen gọi là đền Trấn Vũ hoặc đền Quán Thánh. Đền hiện ở ngã tư­ đ­ường Thanh Niên và đư­ờng Quán Thánh, đời Lê thuộc đất ph­ường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía Nam Hồ Tây.

Sự tích đền cho biết: Huyền Thiên Trấn Vũ là thần cai quản ph­ương Bắc, đã nhiều lần sang giúp n­ước Việt đánh đuổi ngoại xâm: Lần thứ nhất, vào đời Hùng Vư­ơng thứ VI đánh giặc từ vùng biển tràn vào, lần thứ hai, vào đời Hùng V­ương thứ VII đánh giặc Thạch Linh... Chuyện Huyền Thiên Trấn Vũ còn thêm chi tiết giúp dân trừ tà ma, yêu quái phá hoại đời sống yên lành vùng xung quanh thành Thăng Long: trừ rùa thành tinh (đời Hùng Vư­ơng 14), trừ cáo chín đuôi ở Tây Hồ, giúp An D­ơng V­ương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt Hồ ly tinh trên sông Hồng đời Lý Thánh Tông... Đến thời nhà Lê, các vua cũng thư­ờng đến đây để cầu m­a mỗi khi có hạn hán, những lời khấn thần còn ghi trong "Thiên Nam Dư­ hạ tập".

Ngôi đền hiện nay đã đư­ợc sửa chữa nhiều lần. Năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị II (1677), đời Lê Hy Tông, chúa Trịnh Tạc sai đình thần là Nguyễn Đình Luân trùng tu. Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ đư­ợc triều đình cho đúc lại bằng đồng đen (hun). Tư­ợng cao 3,07m, chu vi 8m. T­ượng mặt vuông, mắt nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ, ngồi trên bục đá, tay trái bắt quyết, tay phải chống g­ươm có rắn quấn và chống lên lư­ng một con rùa. Tư­ợng Huyền Thiên Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của dân ta cách đây 3 thế kỷ. Tại nhà bái đư­ờng còn một pho t­ượng nữa, nhỏ hơn, cũng bằng đồng đen, nhiều ngư­ời cho rằng đây là t­ượng ông Trùm Trọng, ngư­ời thợ cả đã chỉ huy việc đúc pho tư­ợng Trấn Vũ. Tượng này là do các học trò của ông đúc để ghi nhớ công ơn của thầy. Cùng đúc với t­ượng là quả chuông cao gần 1,5m treo ở gác tam quan.

Văn bia tại đền do trạng nguyên Đặng Công Chất và tiến sĩ Hồ Sĩ D­ơn soạn. Thời Tây Sơn, đô đốc Lê Văn Ngữ, cùng nhiều ngư­ời nữa đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng (chiều 1,10 x 1,25m) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai. Đến đời Nguyễn, vua Minh Mạng đến thăm đền, đã cấp tiền tu sửa. Năm 1923 cho đổi là Trấn Vũ quán. Năm 1856, bố chánh Sơn Tây là Phạm Xuân Quế, bố chánh Hà Nội là Tôn Thất Giáo, tri huyện Vĩnh Thuận là Phan Huy Khiêm đã tổ chức quyên góp trùng tu, sửa lại chính điện, đình thiêu hư­ơng, bái đư­ờng và gác chuông, làm thêm hai dãy hành lang bên phải và bên trái, đắp lại 4 pho tư­ợng đại nguyên soái, t­ượng thần Đ­ương Niên hành khiển, Văn X­ương Đế Quân và dời xuống hậu đ­ờng phía sau. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm và dâng một đồng tiền vàng, cộng với số tiền vàng do các hoàng thân dâng, đúc lại thành vòng. Vòng dùng sợi dây bạc xâu để treo ở cổ tay tư­ợng thần. Đằng sau đền lại đắp hòn núi non bộ trong một bể con và dựng một đền nhỏ gọi là Vũ Đư­ơng Sơn. Sửa chữa xong, có dựng bia do tiến sĩ Lê Hy Vĩnh soạn. Đền hiện nay có 6 bia, kiến trúc, trang trí của đền hiện nay mang phong cách đời Nguyễn.

Mặc dù đã bị thu hẹp khá nhiều so với trước đây nhưng Quán Thánh hiện nay vẫn là một di tích có quy mô kiến trúc nguy nga, đồ sộ, một danh tích có một ý nghĩa đặc biệt trong vành đai lịch sử quanh hồ Tây, như: Chùa Kim Liên, chùa Trấn Quốc, đình Yên Phụ, đình chùa Quảng Bá, phủ Tây Hồ...

Quán Thánh đẹp ở nhiều mặt. Tại đây cảnh quan môi trường, nội dung thờ tự và hình thức kiến trúc đã hoà quyện vào nhau, tôn đẩy lẫn nhau làm nên giá trị đích thực của di tích. Với một quy mô bề thế, bảo lưu được những nét đẹp truyền thống trong nghệ thuật xây dựng đình, đền của người Việt Nam, ngay từ cái nhìn đầu tiên, nghi môn tứ trụ (nghi môn ngoại) cao to cùng gác chuông (nghi môn nội) nơi có treo quả chuông đời Lê Hy Tông (1677) và quả chuông đời Quang Tự nhà Thanh – Trung Hoa (1888) đã cho ta cảm nhận về một công trình kiến trúc đồ sộ, quanh năm đón gió hồ Tây, đưa ta về với cái tĩnh lặng của một vùng trời nước mênh mông trong một không gian đô thị sôi động.

Bước vào sân đền, ta như bị mê hoặc bởi lối xây dựng mang phong cách “trùng thiềm điệp ốc” của các toà lâu đài cổ được bố cục hài hoà với bốn lớp mái, mỗi lớp mang một dáng vẻ khác nhau. Theo lối đi rợp mát giữa hai hàng cây cổ thụ, bước lên thềm, một lần nữa ta lại bị choáng ngợp bởi một hệ thống đại tự, hoành phi, câu đối, cuốn thư... sơn thếp lộng lẫy, bởi những mảng chạm khắc mạnh mẽ mà chau chuốt trên các bức cốn mê, đầu dư, con rường... của các nghệ nhân tài hoa đất kinh kỳ.

Từ xa xưa, Quán Thánh đã nhận được sự quan tâm của mọi lớp người trong tầng lớp xã hội, từ vua chúa, hoàng thân quý tộc, các quan lại cao cấp trong chiều, đến quan lại các địa phương, từ anh học trò nghèo đến những người dân ở các xã phường xung quanh, nên các trang trí trên kiến trúc, các đồ thờ tự ở đây đều rất đẹp, rất tinh xảo. Tinh hoa văn học của các thời đại cũng tập trung ở đây nên ngoài nội dung thờ tự di tích còn mang cả những giá trị văn học với những bài thơ hay của các danh Nho như: Nguyễn Thượng Hiền, Bùi Quang Tạo, Cao Xuân Dục... được đề trên các cuốn thư, các bảng gỗ và biển lệnh.

Nói đến đền Quán Thánh là người ta nghĩ ngay đến tượng Huyền Thiên Trấn Vũ – vị thần trấn giữ sự bình yên cho kinh thành ở phía Bắc theo quan niệm của người xưa. Huyền thoại kể rằng: khi Ngọc Hoàng thượng đế thiết triều tại cung Ngọc Thanh, nhìn về phương Nam thấy có đám mây bảy sắc rất đẹp, chư thần tâu đấy là đám mây che nắng cho bảy vị Phật đang ngồi thiền định ở gốc cây đào trong vườn Ngự Uyển của Lưu Thiên Quân. Ngọc Hoàng vì muốn có đào quý đã xuất hồn xuống đầu thai tại nhà họ Lưu, sinh hạ Thái tử Trường Sinh. Thái tử chiêm ngưỡng đào đến quên ăn, quên ngủ và nảy ra ý nghĩ chỉ một mình được hưởng lạc thú ấy, không muốn chia sẻ cùng ai. Vì thế mà cây đào đang xanh tốt bỗng héo khô, sắc thiêng thường dọi chẳng còn, các vị Phật ngồi thiền định cũng vắng bóng. Thái tử sau giác ngộ đã quyết tâm từ bỏ chốn Hoàng cung, đi tìm thầy tu luyện được 20 năm rồi hoá. Qua nhiều kiếp tu hành, ngài đã thành chín quả, được phong làm Huyền Thiên thượng đế. Từ ngày về trời, ngài đã nhiều lần hiện thân ở chốn trần gian để diệt trừ yêu ma, cứu giúp dân lành. Tấm bia dựng năm Bảo Đại thứ 3 (1928) hiện còn lưu giữ tại đền ghi rằng: “Nước ta cứ vào thời An Dương Vương có đắp thành Phong Khê (Cổ Loa), cứ đắp xong lại đổ, nhà vua bèn cho lập dàn cúng tế trời đất. Bỗng thấy một con rùa vàng xuất hiện từ phương Đông, tự xưng là Thanh Giang sứ giáng xuống hộ quốc. Vua hỏi việc đắp thành, Thanh Giang sứ nói rằng ở núi Thất Diệu có tinh gà trắng cũng là giống yêu quái. Thanh Giang sứ giúp nhà vua diệt trừ yêu quái và xây thành Phong Khê. Thành được đắp xong, nhân dân yên ổn cả”. Thanh Giang sứ là thần Kim Quy, thuộc hạ của Huyền Thiên Trấn Vũ và viêc ở nước ra có nhiều nơi thờ Huyền Thiên đã tạo ra một thứ tôn giáo pha trộn tín ngưỡng của người Việt.

Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ là pho tượng đồng lớn vào bậc nhất ở miền Bắc do các nghệ nhân Ngũ Xã đúc vào năm 1677. Tượng cao 3,72m, nặng 4 tấn, ngồi oai nghiêm trong tư thế nhìn thẳng, đầu để trần, tóc xoã ra đằng sau. Tượng mặc áo đạo sĩ màu đen, đi chân không, ngón trỏ tay trái đưa lên trước ngực để bắt quyết, tay phải chống gươm lên lưng rùa, thân gươm có rắn quấn. Từ hơn 300 năm nay, pho tượng vẫn là một kiệt tác rực rỡ của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam ở thế kỷ XVII, thu hút được sự chiêm ngưỡng, thờ phụng của đông đảo các tầng lớp nhân dân và du khách thập phương.

Một pho tượng khác cũng không kém phần đặc biệt. Đó là tượng cụ Trùm Trọng – người nghệ nhân đã trực tiếp chỉ huy việc đúc nên pho tượng vĩ đại này. Pho tượng đó có sức thuyết phục rất lớn đối với khách tham quan, bởi lẽ: đó là người đại diện cho nghệ thuật đúc đồng của một làng nghề truyền thống – làng đúc đồng Ngũ Xã thuộc kinh thành Thăng Long xưa.

Có một hiện vật đặc biệt quý nữa của Quán Thánh. Đó là chiếc khánh đồng cổ. Khánh có kích thước khá lớn, hai mặt diềm hoa văn, có núm tròn, xung quanh là 22 hạt tròn nổi, tạo cho núm có dạng gương sen. Mặt khánh ghi “...nhị niên mạnh thu nguyệt cốc tu tạo” (khánh đúc ngày lành tháng 7 năm thứ 2). Theo nhiều nhà nghiên cứu, hai chữ ở đầu dòng bị đục có thể đoán là Cảnh Thịnh thị niên... (Cảnh Thịnh năm thứ 2 – 1974) và như vậy thì đây là chiếc khánh thuộc triều đại Tây Sơn đã vượt qua sự truy lùng của nhà Nguyễn để tồn tại đến ngày nay. Chiếc Khánh này vừa là chứng tích vật thể vừa là tài liệu phi vật thể (chữ viết) giúp chúng ta hiểu thêm về tình hình chính trị, văn hoá, tư tưởng của thời đại Tây Sơn ở Hà Nội.

Ngoài ra đền còn là một bảo tàng nhỏ lưu giữ những sản phẩm tiêu biểu cho nghề đúc đồng cổ truyền của Hà Nội, trong đó, phải kể đến đèn đồng độc đáo cao tới 1,6m trang trí chủ yếu là rồng chầu mặt trời. Rồng ở đây được mô tả trong tư thế hết sức sống động, thân hình mảnh mai phủ kín vẩy, đuôi cong vắt lên trên, 4 chân như đang trong nhịp chuyển bước với 5 móng dạng “ngũ trảo” ở mỗi chân.

Từ ngày giải phóng Thủ đô đến nay, Quán Thánh luôn nhận được sự quan tâm của Bộ Văn hoá Thông tin, của các cấp chính quyền và các cơ quan chuyên môn. Tháng 4 năm 1962 cùng với một số di tích có giá trị khác, Quán Thánh đã được nhà nước liệt hạng A1 cấp quốc gia. Vì vậy mọi tu sửa nhỏ trong di tích đều được sự góp ý của cơ quan chuyên môn, của các nhà nghiên cứu khoa học đủ mọi lĩnh vực. Các hiện vật có trong di tích đều được sự góp ý của cơ quan chuyên môn, của các nhà nghiên cứu khoa học đủ mọi lĩnh vực. Các hiện vật có trong di tích đều được kiểm kê định kỳ, được giám định để có phương án bảo vệ, bảo quản phù hợp để tránh mọi sự huỷ hoại của thiên nhiên nhất là đối với một di tích ở gần hồ nước nơi có độ ẩm cao.

Với kiến trúc nửa điện thờ, nửa cung điện, cùng nhiều di vật quý giá, lại ở vào một vị trí quan trọng của Thủ đô, gần với quảng trường Ba Đình, với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải gần 100 năm lịch sử, Quán Thánh sẽ trường tồn mãi cùng sóng nước Tây Hồ. Di tích là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân quận Ba Đình, xứng đáng là một điẻm du lịch không thể thiếu được đối với du khách trong và ngoài nước mỗi khi đến với Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Phòng Văn hóa và Thông tin