di tích danh thắng

Đền Thủy Trung Tiên
Ngày đăng 04/09/2019 | 09:27

Đền Thuỷ Trung Tiên không kể truyền miệng thì lần đầu được ghi vào văn bản là từ năm 1973. Đó là sách Tập san truyền thống khu phố Ba Đình – số 4 (tháng 12 – 1973) của tác giả Vũ Tuấn Sán. Trong sách này, trang 50 ghi: “Miếu Cẩu Mẫu ở trên núi Khán Sơn trong thành, miếu Cẩu Nhi ở trên gò nhỏ phía đông hồ Tây thuộc địa phận làng Trúc Yên tức là đền Thuỷ Trung Tiên trên chiếc gò nhỏ ở hồ Trúc Bạch đường Thanh Niên hiện nay”.

Như vậy sách này khẳng định tiền thân của đền Thuỷ Trung Tiên là miếu Cẩu Nhi. Vậy sự tích miếu này ra sao? Thì cũng chỉ có một tư liệu thành văn duy nhất ghi về vị trí cũng như sự hình thành của miếu là sách Tây Hồ chí. Đây là một cuốn sách chữ Hán hiện có tại Viện Hán Nôm, ký hiệu A3192 (7). Ở tờ 29a có mục Thần Cẩu Nhi miếu. TS. Phạm Văn Thắm (Viện Hán Nôm) đã dịch như sau:

Miếu thần cẩu nhi:

“Thần Cẩu Nhi là con Thần Cẩu Mẫu triều Lý. Miếu nằm trên gò Châu góc Tây Bắc của hồ. (Thực ra phải dịch là bến Châu hay bến Ngọc vì nguyên văn là Châu Nhử - N.V.P).

Xét: Nơi đây đến thời Trần gọi là bến Thần Cẩu, thời Hậu Lê thuộc Trúc Bạch, cho nên gọi là hồ Trúc Bạch. Họ Lý khi chưa dời đô đến Thăng Long, tại chùa Thiên Tâm dựng trên núi Ba Tiêu thuộc châu Bắc Giang (tên châu thời họ Khúc), có một con chó trắng mang thai bỗng lội qua sông lên ở trên núi Khán, ít lâu sau sinh ra một con, mọi người đều lấy làm lạ. Đến năm Nhâm Tuất dời đô, hai con chó đều hoá. Sự việc này được tâu lên, nhà vua nói đó là Thần Cẩu, xuống chiếu cho dựng ngay trên núi một ngôi miếu thờ mẹ, lại ở trên hồ dựng một ngôi miếu thờ con, đến nay vẫn còn thuộc địa phận thôn Trúc An. Miếu Thần Cẩu Mẫu về sau là chùa Khán Sơn”.

Dù cho Tây Hồ chí là sách khuyết danh được soạn vào cuối thế kỷ XIX thì những ghi chép cũng đồng nhất với Việt sử diễn âm, một tác phẩm diễn ca lịch sử bằng chữ Nôm, khuyết danh, ra đời thế kỷ XVI còn tại Viện Hán Nôm (AB.110) do Kiều Thu Hoạch tìm được, giới thiệu và phiên âm trong Văn học dân gian người Việt – H.2006. Sách của ông Kiều từ trang 224 cho biết theo sách diễn ca nói trên, Lý Công Uẩn sơ sinh không rõ cha là ai, mẹ ẵm đi xin ăn, đến cửa nhà Lý Khánh Văn thì bỗng:

Chó đồng trong cửa cắn ra

Khánh Văn mới ỏi này là sự duyên

Tức là: con chó bằng đồng (tức tượng chó) bỗng sủa, ông Lý mới hỏi cơ sự và nhớ lại: Xưa có ông láo nói, nếu cho biết sủa tức là có thánh nhân đến nhà nên vui vẻ nhận nuôi cậu bé (và đặt tên là Lý Công Uẩn).

Sách diễn ca còn viết tiếp khi Công Uẩn đã là vua dời đô thì:

Lại nghiệm chó cái lội sông

Bơi ứng Thiên tự mà sang Long Thành

Cắn lau làm tổ mới hoà

Sinh con thấy có hiện hình lạ song

Nên chữ Thiên tử dòng dòng

Thái Tổ gẫm được trong lòng mừng thay

Rõ ràng Tây Hồ chí đã thuật lại theo Việt sử diễn âm. Có nghĩa là thuở nhà Lý thực sự có tín ngưỡng thờ chó được coi là điện điều điềm tốt lành.

Thực ra, không chỉ đời Lý ở Việt Nam mà trên thế giới, từ cổ đại đã có tín ngưỡng coi trọng con chó. Chó trong huyền thoại thế giới có nhiều chức năng.

Thứ nhất, người Mêhicô coi chó là một linh vật dẫn dắt linh hồn người chết qua khổ ải của địa ngục. Chó là bạn của con người trong bóng đêm của cõi chết sau khi là bạn đường của con người trong ánh sáng ban ngày.

Thứ hai, như truyền thuyết của người thổ dân Guatamala, chó là người bảo vệ kẻ quá cố. Họ vẫn chôn cùng người chết một con chó lông màu lửa để làm vệ sĩ. Còn người da đỏ Lacandon thì vẫn đặt ở bốn góc mộ bốn tượng chó.

Thứ ba, chó còn có khả năng khám phá những khuất tất. Tộc người Bantu ở Cônggô (châu Phi) hễ có ai chết bí ẩn thì Tù trưởng treo con chó của người ấy lên cây, làm lễ, lời khấn là: “Chó ơi hãy ngửi cho ra cái chết đến từ đâu/ Người nhìn thấy các linh hồn/ Người hãy chỉ ra kẻ có tội về cái chết của chủ ngươi. Tiếp đó chó được mổ, chia đều cho mọi người trong bộ tộc. Sau người nào mắc bệnh thì đó là người mang tội.

Thứ tư, Hồi giáo cũng như Đạo giáo, coi chó là tiêu biểu lòng Trung thành. Đạo Hồi có câu: Khi ai không có anh em, chó sẽ là đứa em của người ấy. Còn Đạo giáo ở Trung Quốc thì từng có truyền thuyết con chó trắng đến chết vẫn chờ chủ. Cũng như ở Trung Quốc (và cả Việt Nam) chó còn là vật tổ của người Dao. “Ông Bàn Hồ” sinh ra tộc người Dao là một con chó vàng. Hiện người Dao vãn thờ “Ông” gọi là Bàn Vương.

  • người Kinh, xưa cũng có tục thờ chó. Cũng ông Kiều Thu Hoạch (trong sách đã nêu trên) có viết: “Tục thờ chó của người Việt được thể hiện dưới hai hình thức. Một là, hình thức chôn chó đá trước cổng nhà như linh vật để canh cổng với ý nghĩa trừ tà, cầu phúc. Hai là, hình thức đặt chó đá trên bệ thờ/ ngai thờ như một thần linh để cầu cúng, phụng thờ”. Ông có dẫn một bài viết của nhà văn Tô Hoài trong sách Chuyện cũ Hà Nội về tục thờ chó ở vùng Nghĩa Đô: “Chẳng hiểu từ bao giờ, ở chỗ đường cái vào, áp vách đầu nhà tôi, có con chó đá. Đây là con chó đá canh cổng, nhiều nhà có. Chó đá canh cổng trông quen mắt như cái bình vôi treo ở đám rễ sỉ, rễ đa. Mỗi chiều rằm, mùng một, bà tôi lấy chiếc bát đàn múc trong vại bên gốc cau ra bát nước mưa, một lá trầu không quệt sẵn vôi và miếng cau khô, một nén hương, đem đặt trước mõm chó đá. Bà chắp tay, khấm lầm rầm rồi vái mấy vái. Cũng con chó đá bên cổng nhà ông bà giữa xóm thì tuần rằm được hai nén hương, một miếng thịt lợn sống đặt giữa cái đĩa sứ, một cút rượu mở sẵn nút”.

Như vậy, cho tới những năm 1920 – 1930 ở Nghĩa Đô còn có tục cúng lễ chó đá.

Còn hình thức đặt chó đá trên bệ thờ riêng để thờ phụng như một vị thần linh, thì ông Kiều đã phát hiện thấy hơn hai nơi thuộc huyện Đan Phượng, Hà Tây:

Một bệ thờ chó đá đặt ở ngoài vườn mé bên trái, trước cửa đình thôn Phù Trung, xã Thượng Mỗ, huyện Đan Phượng. Trên bệ thờ, trước mặt con chó đá có đặt bát hương. Theo cụ thủ từ thì chó đá vốn xưa ở trên gò cao cách đình vài trăm mét, trên gò khi xưa còn có cả hai cây gạo to. Sau, không biết rõ từ bao giờ, mới rước “ngài” về bên cạnh đình cho tiện hương khói.

Một bệ thờ chó đá khác nằm cạnh quần thể di tích chùa Phúc Khánh và đình làng Địch Vi, xa Phương Đình, huyện Đan Phượng. Chó đá ở đây là một nhóm được đẽo bằng đá xanh. Ngồi giữa là chó lớn cao 1,40m, quây quần hai bên là đàn chó nhỏ gồm 16 con kích cỡ không đồng đều, có con cao 15cm, có con cao 30cm, được tạo tác nhiều kiểu dáng khác nhau. Cả nhóm tượng chó đều ngồi trên một bệ thờ xây bằng gạch, rộng khoảng 10m2 , xung quanh bệ thờ có tường bao. Trước mặt chó lớn có đặt một bát hương rất to.

Như vậy là đã rõ. Ở ta vốn có tục thờ chó cho nên ở Thăng Long có miếu Thần Cẩu Mẫu, Cẩu Nhi thì cũng là dễ hiểu. Nhất là sự tích chó thần này lại liên quan đến sự kiện định đô. Có điều là tín ngưỡng này ngày một phai nhạt, nhất là ở đô thị, nên không còn ai nghĩa tới cái gốc gác thờ tự xa xưa. Và người ta đắp vào miếu Thần Cẩu Nhi lớp tín ngưỡng mới là thờ Thuỷ Trung Tiên, nàng tiên trong nước. Có lẽ đây cũng là một dạng của tín ngưỡng thờ các mẫu (ví dụ mẫu Thoải) hoặc các tiên như tiên Quỳnh Hoa, tiên Quế Hoa ở Phủ Tây Hồ. Dù sao tín ngưỡng này cũng là một dạng của tín ngưỡng cổ truyền nên nay phục hồi lại ngôi đền này cũng là phải lẽ, vừa lưu dấu một hoài niệm về thoèi định đô, vừa thêm môt cơ sở thờ cúng để gỉai toả tâm linh lại vừa cả thêm một di tích văn hoá cho thành phố, tạo thành một địa chỉ dừng chân mới cho khách du lịch khi đi thăm thú hồ Tây – hồ Trúc Bạch.

Nguyễn Vinh Phúc