di tích danh thắng

Ngôi đền trên Núi Sưa
Ngày đăng 04/09/2019 | 09:48

Cho tới tận nay (2008) vẫn còn nhiều người hiểu lầm về tên gọi của ngọn núi trong vường Bách Thảo. Người thì gọi là núi Nùng. Kỳ thực núi Nùng nằm trong Thành cổ nơi vua Lý Thái Tổ cho xây chính điện nên có từ ngữ Nùng Sơn Chính điện (tức nay là chỗ còn vết tích điện Kính Thiên với 9 bậc và 4 lan can Rồng đá).

Người thì gọi là núi Khán. Kỳ thực núi này vốn nằm ở Tây Bắc Thành cổ có hai chỏm mà các bản đồ như Hoài Đức phủ toàn đồ vẽ năm 1831 và bản đồ Hà Nội năm 1873 vẫn còn vẽ ký hiệu núi này. Sau thực dân Pháp san bằng để xây trường Anbe Xarô nay là Trụ sở Trung ương Đảng ở trước Phủ Chủ tịch.

Còn ngọi núi trong vườn Bách Thảo là núi S ưa hoặc núi Xuân.

Đền núi Sưa nằm trong công viên Bách Thảo, thuộc phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đền có không gian rộng, thoáng, hài hoà với cảnh quan xung quanh, kết cấu theo kiểu vì “chồng rường con nhị” – một kiểu kiến trúc truyền thống của người Việt. Nổi bật ở di tích là các mảng trang trí trên cửa võng, hương án sơn son thếp vàng, chạm lộng khéo léo, uyển chuyển và tinh tế.

Đền núi Sưa toạ lạc trên đỉnh núi Sưa, từ dưới chân núi đi lên 23 bậc là đến một khoảng sân rộng, các bộ phận cấu thành của đền là toà tiền tế và hậu cung tạo thành kiến trúc hình chữ Định. Tiền tế là một lớp nhà 3 gian 2 dĩ kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc chạy thẳng kết thúc bằng hai đấu nắm cơm. Tại tiền tế có khám thờ trong đặt long ngai bài vị, mũ áo Đức Thượng đẳng. Hai trụ biểu phía trước hồi có mặt cắt ngang hình vuông, đỉnh nắp búp sen, đế thắt tạo hình cổ bồng.

Hậu cung, một nếp nhà 3 gian chạy dọc phía sau, có kiến trúc giống tiền tế. Tường bên phải gắn 4 bia đá có niên hiệu Thành Thái tứ niên (1894), Thành Thái lục niên (1896), Minh Mệnh (1829 – 1841), Bảo Đại lục niên (1933).

Một vài chỗ chưa chính xác của tư liệu cũ về tên gọi ngọn núi Sưa: sách Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội của Hoàng Đạo Thuý (Sở Văn hoá Hà Nội xuất bản năm 1971, trang 23) có viết: “Trong vườn Bách Thảo hiện còn ngọn núi đất tên là Núi Tiết”; Bản đồ Hà Nội 1902 bên cạnh ký hiệu ngọn núi trong vườn Bách Thảo có ghi là “Vieille montage” (Núi Xưa).

Còn Bản đồ Hà Nội 1902 thì vì khi đó người vẽ bản đồ không hiểu nghĩa chữ Sưa là tên một loài cây, nên đoán là (xa) xưa và đã dịch là núi Xưa.

Kỳ thực Sưa là một cây thân mộc chủ yếu cho bóng mát, tên khoa học là Dalbergia tonkinesis Prain, còn có tên nôm nữa là Trắc thối, vì đem đổ quả của nó thì bốc ra cái mùi hôi thối không chịu được. Tuy nhiên gỗ của nó cũng có thể dùng như gỗ cây gạo, cây đa.

Sách Tây Hồ chí, ở mục Sơn xuyên ghi: “Xuân Sơn ở phía Nam hồ hay là góc Tây tỉnh thành Hà Nội, cũng có tên là Hoa Lan Phong (núi Hoa Lan) là một trong ba ngọn Khán Sơn. Chân núi có đầm Hải Trì, trong đầm có bãi Tri Thù (Mạng nhện). Trên núi có đền thờ Mai Hắc Đế. Nay còn, thuộc địa phận thôn Khán Xuân”.

Chữ Xuân Sơn không sai, vì trong sách Các trấn tổng x ã danh bị lãm (soạn khoảng 1810) đã ghi tổng Yên Thành, huyện Thọ Xương có 26 thôn Hậu Khán Sơn lại có cả thôn Khán Sơn Núi Sưa. Đến Hoài Đức phủ toàn đồ (1831) thì thôn Khán Sơn Núi Sưa đã đổi ra là thôn Xuân Sơn. Đến Hà Nội địa bạ (1866) thì thôn Xuân Sơn đã hợp nhất với thôn Hậu Khán Sơn thành ra thôn Khán Xuân.

Vậy Xuân Sơn cũng là núi Sưa. Đây là Tây Hồ chí chép theo tên gọi có trong Hoài Đức phủ toàn đồ. Tuy nhiên Tây Hồ chí lại có một điểm sai: câu chép “Trên núi có đền thờ Mai Hắc Đế” là sai. Đó là sự nhầm lẫn. Thực tế đền này thờ Hắc Đế (sống thời Lý thế kỷ XI) chứ không phải là Mai Hắc Đế tức Mai Thúc Loan sống thời Bắc thuộc (thế kỷ thứ VIII).

Theo thần tích còn lại ở đình làng Ngọc Hà, làng Hữu Tiệp thì sự tích Hắc Đế như sau: “Vào đời Lý, tại làng Hữu Tiệp có một người đàn bà nhân đi lễ ở chùa Một Cột trở về thụ thai, sinh ra một bé trai. Cậu này da đen nhánh, mau ăn chóng lớn, trở thành một chú bé có sức khoẻ phi thường, tính tình mạnh bạo. Cậu thường lên núi kiếm củi. Khi đó 8 tuổi, cậu trèo lên cây cao. Ai dè cành cây gãy, cậu rơi xuống đất và chết ngay tức thì. Mối đùn thành mộ.

Lần vua Lý đi chinh phạt phương Nam, mộng thấy một chú bé mình da đen trùi trũi kể tung tích và xin theo âm phù. Quả nhiên lần đó trong một trận đánh, vua thấy một người mình đen hiện ra, hoá thành đám mây đen bay rợp mặt sông làm nổi sóng gió ba đào, nhấn chìm các thuyền quân địch. Lúc ban sự hồi triều vua cho lập đền ngay trên mộ (Thượng từ hạ mộ) và phong là “Huyền Thiên Hắc Đế”.

Như vậy, huyền thoại này có thể được hư cấu trên một thực tế là thời Lý có một thiếu niên anh hùng người vùng chân núi Sưa đã lập công trong một lần chinh phạt phương Nam (như làng Đại Yên cũng có thiếu nữ Ngọc Hoa 9 tuổi đã theo đàon quân Lý Thường Kiệt đi nam chinh).

Có lẽ cũng nên nói qua về âm phù. Thoạt nghe thì là quan niệm thần bí nhưng nghĩ lại sẽ thấy có hiệu quả rất trần thế. Vì việc người đã quá cố hiển linh giúp người hiện tại chính là hình thức củng cố tinh thần bằng cách gợi nhớ đến truyền thống của cha ông, chính là tranh thủ lấy sức mạnh truyền thống từ đó tạo ra một sức mạnh mới để hoàn thành nhiệm vụ mới.

Cho nên việc thờ cúng những nhân vật huyền kỳ rõ ràng là bao hàm những hi vọng và niềm tin của nhân dân. Xét đến cùng thì đây cũng là hình thức bảo vệ cội nguồn. Việc thờ cúng thần linh một mặt có màu sắc tôn giáo nhưng mặt khác lại gắn với ký ức vững bền của dân tộc về những kỳ tích của cha ông trong quá khứ. Trở lại ngôi đền núi Sưa và Thành hoàng Hắc Đế. Vùng chân núi Sưa về sau hình thành ra các làng Khán Xuân, Ngọc Hà, Hữu Tiệp và tới năm 1892 thì thêm làng Xuân Biểu1 đều thờ Huyền Thiên Hắc Đế làm Thành hoàng. Trong đình Ngọc Hà còn đôi câu đối ghi lại sự tích của Thần.

Nhất trụ mộng sinh, dương thác Sư sơn thuyền ngọc phả

Cửu thiên phú thốn, âm phù Lý trất thiếp hà ba.

Nghĩa là:

Chùa Một Cột ứng mộng ra đời, sống gửi núi Sưa, tích truyền sách ngọc.

Mây chín tầng buông là xuống thấp, hồn phù nhà Lý, sông lặng sóng yên.

Hàng năm cứ đến ngày 19 tháng giêng âm lịch, hội làng lại được tổ chức để tưởng nhớ công lao của vị Thành hoàng làng “Thượng Đẳng Thần – Huyền Thiên Hắc Đế”. Sau tế lễ là nghi thức rước long ngai, bài vị thần từ đình Ngọc Hà, đình Hữu Tiệp về đền núi Sưa.

Do thời gian và chiến tranh, đền trên núi Sưa bị tà tạ. Khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, dân làng Ngọc Hà mới xây lại. Dường như văn vật cũ còn hai bức hoành phi Lý triều hiển Thánh Sư Sơn lăng miếu. Song việc thờ tự ở bên trong không còn như cũ, chủ yếu là thờ Phật, thờ Mẫu và cả đức Thánh Trần (?)

Có lẽ trong thời gian tới, để ghi dấu một di tích vốn có từ rất xa xưa, ngôi đền cũng nên được các cấp, các ngành quan tâm bảo tồn chăng?2

 

  1. Năm 1980 thực dân Pháp lấy đất làng Khán Xuân làm vườn Thực Nghiệm (tức nay là vườn Bách Thảo). Chúng dồn dân Khán Xuân đến ngụ trên đất xóm Yên Biểu của làng Ngọc Thanh (nay là đoạn đầu phố Sơn Tây), vẫn thờ Hắc Đế, nhưng sau do ở nhờ đất làng Ngọc Thanh nên cũng thờ thêm Thành hoàng của làng này là Bố Cái đại vương và Linh Lang (tuy nhiên tín ngưỡng thờ Hắc Đế cũng đã phai nhạt).

2 Ở đình Hữu Tiệp thờ Hắc Đế. Còn bà mẹ của Hắc Đế thì được thờ ở đền riêng gọi là đền Cát Triệu.

Nguyễn Vinh Phúc