Văn hóa xã hội

Chùa Hồng Phúc (Trích theo sách di tích Ba Đình di tích và danh thắng)
Ngày đăng 15/04/2009 | 00:00

Chùa Hồng Phúc hiện nay ở số nhà 19 phố Hàng Than, còn có tên là chùa Hòe Nhai, vì trước đây chùa thuộc phường Hòe Nhai. Vốn được xây dựng từ đầu thế kỷ XI, nhưng chùa Hồng Phúc đã bị chiến tranh tàn phá, mãi đến cuối thế kỷ XVII, có bà bào mẫu của vua Lê Hy Tông quê ở phường này đứng ra xây dựng lại, rồi mời Hòa thượng Thủy Nguyệt - Vị tổ thứ nhất của phái Tào động đến trụ trì.

Chùa Hồng Phúc hiện nay ở số nhà 19 phố Hàng Than, còn có tên là chùa Hòe Nhai, vì trước đây chùa thuộc phường Hòe Nhai. Vốn được xây dựng từ đầu thế kỷ XI, nhưng chùa Hồng Phúc đã bị chiến tranh tàn phá, mãi đến cuối thế kỷ XVII, có bà bào mẫu của vua Lê Hy Tông quê ở phường này đứng ra xây dựng lại, rồi mời Hòa thượng Thủy Nguyệt - Vị tổ thứ nhất của phái Tào động đến trụ trì.

Chùa Hồng Phúc hiện nay ở số nhà 19 phố Hàng Than, còn có tên là chùa Hòe Nhai, vì trước đây chùa thuộc phường Hòe Nhai. Vốn được xây dựng từ đầu thế kỷ XI, nhưng chùa Hồng Phúc đã bị chiến tranh tàn phá, mãi đến cuối thế kỷ XVII, có bà bào mẫu của vua Lê Hy Tông quê ở phường này đứng ra xây dựng lại, rồi mời Hòa thượng Thủy Nguyệt - Vị tổ thứ nhất của phái Tào động đến trụ trì.

Chùa Hồng Phúc tọa lạc trên một khu đất vuông vắn, ngoài cùng là Tam quan xây cột trụ không mái. Trước sân chùa có hai tháp kỷ niệm các nhà sư đã viên tịch và chếch về góc trái trước chùa có thấp Ấn Quang mới xây năm 1963 để tưởng niệm Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở Sài Gòn nhằm tố cáo tội ác của Mỹ -ngụy.

Mặt bằng kiến trúc của chùa hình chữ "công", phía trước là hai Bái đường liền mái với nhau, mỗi nhà có 5 gian; phía sau là nhà Tổ gồm 7 gian và kề ngay đó có ngôi nhà 13 gian, trước đây gọi là "Kinh viện" (Nhà để kinh sách). Năm 2007, sau khi thu hồi được từ 13 hộ gia đình cán bộ thuộc đội 5 đường sắt sử dụng, toàn bộ nhà kinh viện chùa Hồng Phúc đã được tu bổ trên cơ sở bảo tồn, tôn tạo các hình thức kiến trúc đặc trưng hiện có của chùa như lát nền, xây bờ nóc, đắp hoa văn, xây tường và móng, các kết cấu gỗ được thay thế bằng gỗ lim với tổng kinh phí là 7 tỷ đồng; đến nay nhà kinh viện chùa Hồng Phúc đã được đưa vào sử dụng, góp phần phục vụ nhân dân địa phương, du khách thập phương thăm viếng. Ngoài ra, phía bên trái nhà Tổ còn có nhà kho và nhà bếp.

Ngôi chùa hiện tại còn giữ được khá nhiều hiện vật quý giá, có giá trị lịch sử, nghệ thuật. Một đài sen gốm của thế kỷ XVI với các hình trang trí hoa cúc, vân xoắn ở những cánh sen, thuộc loại quý hiếm, góp phần đánh dấu một bước mới trong sự phục hưng Phật giáo sau một thời gian bị đình đốn. Tấm bia thuộc thế kỷ XVII-XVIII, một mặt khắc chữ Hán, một mặt chạm nổi nhiều hình người trong kiếp tu theo giáo lý đạo Phật là một tấm bia đẹp và ít thấy trong mỹ thuật cổ ở nước ta. Đáng chú ý là bia ở bên phải trước sân chùa dựng năm 1703 có ghi rõ: "Chùa được xây dựng tại phường Hòe Nhai ở Đông Bộ Đầu (bến Đông)". Như vậy, nhờ có tấm bia và vị trí của chùa Hồng Phúc mà giới sử học ngày nay đã xác định được địa điểm của Đông Bộ Đầu- nơi diễn ra cuộc tập kích đánh đuổi quân Mông- Nguyên xâm lược ra khỏi Thăng Long năm 1258.

Pho tượng Phật ngồi trên lưng một ông vua đang phủ phục cũng là một trong những báu vật của chùa. Truyền thuyết kể rằng, lúc bấy giờ vua Lê Hy Tông thi hành chính sách chống Phật giáo nên đã đuổi các nhà sư vào rừng. Vì thế Hòa thượng Tông Diễn Chân Dung- vị sư tổ thứ hai của chùa Hồng Phúc đã viết một bài biểu bỏ vào trong một cái hộp đem đến dâng vua và nói là trong hộp có ngọc minh châu. Nhà vua mở hộp ra xem, không thấy ngọc mà chỉ có bài biểu đại ý nói rằng, nhà Lê sở dĩ được lâu bền là nhờ đức Phật phù hộ độ trì. Sau đó, Lê Hy Tông sám hối, thay đổi thái độ đối với Phật giáo. Có lẽ xuất phát từ câu chuyện này mà về sau người ta đã tạc nên pho tượng một vị quốc vương phủ phục để Phật ngồi trên lưng, biểu thị cho sự khuất phục của vương quyền trước thần quyền. Hai pho tượng Hộ pháp bằng đồng hun cao lớn đứng trên bệ đá đặt ở Tiền đường cũng là những hiện vật thuộc loại quý hiếm trong các di tích tôn giáo ở thủ đô. Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều di vật khác, như: Chiếc khánh bằng đồng niên hiệu Long Đức thứ 3 đời vua Lê Thuần Tông (1734), quả chuông treo ở bên trái Tiền đường mang niên hiệu Thành Thái nguyên niên (1889), quả chuông treo ở nhà Tổ đúc năm Tự Đức thứ 17 (1864), cùng nhiều đồ thờ có chất liệu đồng, sứ, gỗ…có giá trị về lịch sử và nghệ thuật, góp phần tôn thêm vẻ trang nghiêm, cổ kính của di tích. Về mặt kiến trúc, đáng chú ý là tòa Tiền đường có kết cấu 2 tầng 8 mái, chứa đựng ý nghĩa về Dịch học. Ở đây, có thể thấy nó như được kế thừa kiểu dáng của nhiều Tam quan thuộc các thế kỷ trước, song phần mái trên có tỷ lệ nhỏ hơn mái dưới, khiến cho lòng nhà vẫn cao ráo và thoáng rộng. Người đương thời đã sử dụng hình thức bào trơn đóng bén khá đơn giản, nhưng mối liên kết của các xà, rường lô xô cao thấp, to nhỏ khác nhau đã tạo nên một giá trị đặc biệt về nghệ thuật kiến trúc cho ngôi chùa. Phần trang trí chính của kiến trúc hầu như được đặt vào các y môn của Phật điện và các gian thờ phụ. Những mảng trang trí này thường được chạm thủng, không cầu kỳ mà trang nhã với đường nét mạch lạc, bố cục cân đối . Về cơ bản, vẫn sử dụng những đề tài truyền thống như : hoa cỏ, cúc, sen… để nói lên ước nguyện truyền đời của người dân về nguồn hạnh phúc, no đủ. Cũng có vài y môn được điểm xuyết hình các vị Phật tọa thiền trên tòa sen như ở nhà Tổ, hình thức đơn giản, như ẩn đi cùng hoa lá để tạo nên sự tĩnh lặng nghệ thuật ở cảnh chùa và qua đó cũng nhắc chúng ta liên hệ tới cách bố cục hình tượng Bồ tát ở cửa chùa của người Khơ - me Nam bộ.

Trải qua lịch sử khá lâu dài, chùa Hồng Phúc đã có 48 vị sư tổ, trong đó có nhiều nhà sư được nhà Lê phong sắc. Hiện ở nhà Tổ của chùa còn treo một đạo sắc do vua Lê Hiển Tông phong cho nhà sư Trần Văn Chức năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750) và một bức tranh cổ vẽ phong cảnh có hình voi và phượng, tương truyền do vua Lê Hy Tông ban tặng nhà chùa sau khi sám hối. Chùa Hồng Phúc cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện Phật giáo đáng ghi nhớ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại nhà Tổ của chùa đã diễn ra cuộc họp của các tăng ni Phật tử thủ đô để cử một đoàn đại biểu đến yết kiến chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đây cũng là nơi thành lập Hội Phật giáo cứu quốc và Hòa thượng Thích Đức Nhuận- Pháp chủ Hội Phật giáo Việt Nam cũng từng trụ trì tại chùa này.

Ca ngợi sự linh thiêng và vẻ đẹp của chùa Hồng Phúc giữa chốn phồn hoa đô hội của đất kinh kỳ , có một nhà thơ xưa đến vãn cảnh đã để lại mấy dòng cảm tác sau:

"Cảnh chùa Hồng Phúc tại Thăng Long

Nguồn nước Tào Khê chảy thuận dòng

Biểu ngọc chỉ ra đường đạo lý

Lời vàng vẫn dụ khách mê mông

Báo Thiên, Khán Lĩnh dù thay đổi

Thiền uyển tăng già vẫn sáng trong

Năm lá một hoa đời nảy nở

Đạo màu vang dội khắp non sông".

CHÙA HỒNG PHÚC

Trích theo sách di tích Ba Đình di tích và danh thắng

Chựa Hồng Phúc hiện nay ở số nhà 19 phố Hàng Than, còn có tên là chùa Hoè Nhai, vì trước đây chùa thuộc phường Hoè Nhai. Vốn được xây dựng từ đầu thế kỷ XI, nhưng chùa Hồng Phúc đó bị chiến tranh tàn phá, mãi đến cuối thế kỷ XVII, có bà bào mẫu của vua Lê Hy Tông quê ở phường này đứng ra xây dựng lại, rồi mời Hũa thượng Thủy Nguyệt - Vị tổ thứ nhất của phái Tào động đến trụ trỡ.

Chùa Hồng Phúc tọa lạc trên một khu đất vuông vắn, ngoài cùng là Tam quan xây cột trụ không mái. Trước sân chùa có hai tháp kỷ niệm các nhà sư đó viờn tịch và chếch về gúc trỏi trước chùa có thấp Ấn Quang mới xây năm 1963 để tưởng niệm Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở Sài Gòn nhằm tố cáo tội ác của Mỹ -ngụy.

Mặt bằng kiến trúc của chùa hình chữ "công", phía trước là hai Bái đường liền mái với nhau, mỗi nhà có 5 gian; phía sau là nhà Tổ gồm 7 gian và kề ngay đó có ngôi nhà 13 gian, trước đây gọi là "Kinh viện" (Nhà để kinh sách). Năm 2007, sau khi thu hồi được từ 13 hộ gia đình cán bộ thuộc đội 5 đường sắt sử dụng, toàn bộ nhà kinh viện chùa Hồng Phúc đó được tu bổ trên cơ sở bảo tồn, tôn tạo các hình thức kiến trúc đặc trưng hiện có của chùa như lát nền, xây bờ nóc, đắp hoa văn, xây tường và móng, các kết cấu gỗ được thay thế bằng gỗ lim với tổng kinh phí là 7 tỷ đồng; đến nay nhà kinh viện chùa Hồng Phúc đó được đưa vào sử dụng, góp phần phục vụ nhân dân địa phương, du khách thập phương thăm viếng. Ngoài ra, phía bên trái nhà Tổ còn có nhà kho và nhà bếp.

Ngôi chùa hiện tại còn giữ được khá nhiều hiện vật quý giá, có giá trị lịch sử, nghệ thuật. Một đài sen gốm của thế kỷ XVI với các hình trang trí hoa cúc, võn xoắn ở những cánh sen, thuộc loại quý hiếm, góp phần đánh dấu một bước mới trong sự phục hưng Phật giáo sau một thời gian bị đình đốn. Tấm bia thuộc thế kỷ XVII-XVIII, một mặt khắc chữ Hán, một mặt chạm nổi nhiều hình người trong kiếp tu theo giáo lý đạo Phật là một tấm bia đẹp và ít thấy trong mỹ thuật cổ ở nước ta. Đáng chú ý là bia ở bên phải trước sân chùa dựng năm 1703 có ghi rừ: "Chùa được xây dựng tại phường Hoè Nhai ở Đông Bộ Đầu (bến Đông)". Như vậy, nhờ có tấm bia và vị trí của chùa Hồng Phúc mà giới sử học ngày nay đó xác định được địa điểm của Đông Bộ Đầu- nơi diễn ra cuộc tập kích đánh đuổi quân Mông- Nguyên xâm lược ra khỏi Thăng Long năm 1258.

Pho tượng Phật ngồi trên lưng một ông vua đang phủ phục cũng là một trong những báu vật của chùa. Truyền thuyết kể rằng, lúc bấy giờ vua Lê Hy Tông thi hành chính sách chống Phật giáo nên đó đuổi các nhà sư vào rừng. Vì thế Hòa thượng Tông Diễn Chân Dung- vị sư tổ thứ hai của chùa Hồng Phúc đó viết một bài biểu bỏ vào trong một cái hộp đem đến dâng vua và nói là trong hộp có ngọc minh châu. Nhà vua mở hộp ra xem, không thấy ngọc mà chỉ có bài biểu đại ý núi rằng, nhà Lê sở dĩ được lâu bền là nhờ đức Phật phù hộ độ trì. Sau đó, Lê Hy Tông sám hối, thay đổi thái độ đối với Phật giáo. Có lẽ xuất phát từ câu chuyện này mà về sau người ta đó tạc nên pho tượng một vị quốc vương phủ phục để Phật ngồi trên lưng, biểu thị cho sự khuất phục của vương quyền trước thần quyền. Hai pho tượng Hộ pháp bằng đồng hun cao lớn đứng trên bệ đá đặt ở Tiền đường cũng là những hiện vật thuộc loại quý hiếm trong các di tích tôn giáo ở thủ đô. Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều di vật khác, như: Chiếc khánh bằng đồng niên hiệu Long Đức thứ 3 đời vua Lê Thuần Tông (1734), quả chuông treo ở bên trái Tiền đường mang niên hiệu Thành Thái nguyên niên (1889), quả chuông treo ở nhà Tổ đúc năm Tự Đức thứ 17 (1864), cùng nhiều đồ thờ có chất liệu đồng, sứ, gỗ…có giá trị về lịch sử và nghệ thuật, góp phần tụn thờm vẻ trang nghiờm, cổ kớnh của di tớch. Về mặt kiến trúc, đáng chú ý là tũa Tiền đường có kết cấu 2 tầng 8 mái, chứa đựng ý nghĩa về Dịch học. Ở đây, có thể thấy nó như được kế thừa kiểu dáng của nhiều Tam quan thuộc các thế kỷ trước, song phần mái trên có tỷ lệ nhỏ hơn mái dưới, khiến cho lũng nhà vẫn cao rỏo và thoỏng rộng. Người đương thời đó sử dụng hỡnh thức bào trơn đóng bén khá đơn giản, nhưng mối liên kết của các xà, rường lô xô cao thấp, to nhỏ khác nhau đó tạo nờn một giỏ trị đặc biệt về nghệ thuật kiến trỳc cho ngụi chựa. Phần trang trí chính của kiến trúc hầu như được đặt vào cỏc y môn của Phật điện và các gian thờ phụ. Những mảng trang trí này thường được chạm thủng, không cầu kỳ mà trang nhó với đường nét mạch lạc, bố cục cân đối . Về cơ bản, vẫn sử dụng những đề tài truyền thống như : hoa cỏ, cúc, sen… để nói lên ước nguyện truyền đời của người dân về nguồn hạnh phúc, no đủ. Cũng cú vài y môn được điểm xuyết hỡnh cỏc vị Phật tọa thiền trờn tũa sen như ở nhà Tổ, hỡnh thức đơn giản, như ẩn đi cùng hoa lá để tạo nên sự tĩnh lặng nghệ thuật ở cảnh chùa và qua đó cũng nhắc chỳng ta liờn hệ tới cỏch bố cục hỡnh tượng Bồ tát ở cửa chùa của người Khơ - me Nam bộ.

Trải qua lịch sử khá lâu dài, chùa Hồng Phúc đó cú 48 vị sư tổ, trong đó có nhiều nhà sư được nhà Lê phong sắc. Hiện ở nhà Tổ của chùa cũn treo một đạo sắc do vua Lê Hiển Tông phong cho nhà sư Trần Văn Chức năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750) và một bức tranh cổ vẽ phong cảnh có hỡnh voi và phượng, tương truyền do vua Lờ Hy Tụng ban tặng nhà chựa sau khi sỏm hối. Chùa Hồng Phúc cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện Phật giáo đáng ghi nhớ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại nhà Tổ của chựa đó diễn ra cuộc họp của các tăng ni Phật tử thủ đô để cử một đoàn đại biểu đến yết kiến chớnh phủ Việt Nam dõn chủ cộng hũa. Đây cũng là nơi thành lập Hội Phật giáo cứu quốc và Hũa thượng Thích Đức Nhuận- Pháp chủ Hội Phật giáo Việt Nam cũng từng trụ trỡ tại chựa này.

Ca ngợi sự linh thiêng và vẻ đẹp của chùa Hồng Phúc giữa chốn phồn hoa đô hội của đất kinh kỳ , có một nhà thơ xưa đến vón cảnh đó để lại mấy dũng cảm tỏc sau:

"Cảnh chùa Hồng Phúc tại Thăng Long

Nguồn nước Tào Khờ chảy thuận dũng

Biểu ngọc chỉ ra đường đạo lý

Lời vàng vẫn dụ khỏch mờ mụng

Báo Thiên, Khán Lĩnh dù thay đổi

Thiền uyển tăng già vẫn sỏng trong

Năm lá một hoa đời nảy nở

Đạo màu vang dội khắp non sông".