TIN TỨC KHÁC

Trường THCS Giáp Bát: Rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh qua các giờ HĐNGLL và hoạt động tập thể
Ngày đăng 23/08/2019 | 10:26  | View count: 41

Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh qua các giờ HĐNGLL và hoạt động tập thể

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

     Những năm gần đây, giáo dục nước ta đang đứng trước nhiệm vụ to lớn: Đổi mới mục tiêu và nội dung giáo dục phù hợp với sự phát triển của đất nước, của thời đại.

     Mục tiêu của giáo dục là đào tạo những công dân không chỉ phát triển toàn diện về nhân cách, mà còn có những phẩm chất năng lực tốt, phát huy tối đa mọi tiềm năng, khả năng sáng tạo của mình để thích ứng với cuộc cách mạng 4.0 và công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc.

     Học để hiểu biết, học để làm, học để tự khẳng định bản thân và học để tồn tại và hòa nhập. Nền giáo dục của chúng ta luôn cố gắng cải tiến cả về nội dung phương pháp để đạt được mục tiêu đó. Hiện nay, không ít học sinh của chúng ta đang đến trường với mục tiêu: cố gắng để đạt điểm cao, để có tấm bằng loại giỏi. Những việc làm đó chỉ mới đạt được một mục đích: học để biết. Để tồn tại, để khẳng định bản thân và để hòa nhập còn là cả một quá trình học tập rèn luyện không phải những kiến thức trong sách vở mà trong thực tế trên sự rèn luyện kỹ năng của chính bản thân người học.

     Năng lực của mỗi người được đánh giá ở ba tiêu chí: kiến thức - kỹ năng - thái độ. Trước đây, chúng ta luôn coi trọng kiến thức và thường xem nhẹ giáo dục kỹ năng, thái độ. Việc giáo dục và rèn luyện kỹ năng - thái độ cho học sinh nói chung và học sinh cấp THCS nói riêng đang trở thành vấn đề nóng ở các diễn đàn giáo dục. Giáo dục và rèn luyện cho các em kỹ năng sống, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng hòa nhập, thái độ hành vi ứng xử với những người xung quanh, giúp các em phát triển khả năng trên những gì sẵn có của mỗi cá nhân từ khi sinh ra. Những kỹ năng đó gọi là kỹ năng mềm. Theo một số khảo sát của các nhà xã hội học: Những người thành đạt chỉ có 25% là do kiến thức và do chứng chỉ chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị.

     Vì vậy, ngoài kiến thức văn hóa, học tập và rèn luyện kỹ năng mềm là một phần vô cùng quan trọng trong môi trường giáo dục hiện nay. Nó phù hợp với nhu cầu và mục đích của người học: học để tự khẳng định mình và phù hợp với sự phát triển chung của thế giới. Đó là lý do tôi quan tâm và nghiên cứu về đề tài: “Rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh THCS qua các giờ HĐNGLL và hoạt động tập thể”

Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp C (do tôi chủ nhiệm)

Thời gian nghiên cứu: Năm học 2016-2017

Năm học 2017-2018

Năm học 2018-2019

Phương pháp nghiên cứu:

phương pháp quan sát

phương pháp thống kê

phương pháp thực nghiệm

phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     I. Cơ sở lý luận

     1. 1. Khái niệm

- Kỹ năng mềm là sự kết hợp các kỹ năng cá nhân với kỹ năng xã hội, kỹ năng giao tiếp, đặc điểm tính cách, thái độ nghề nghiệp kết hợp với trạng thái cảm xúc ứng xử giữa người với người. Nó bao gồm các xúc cảm bình thường, khả năng đối phó và thương lượng với mọi người và một thái độ linh hoạt tích cực.

- Kỹ năng mềm là những kỹ năng hòa nhập xã hội, thái độ hành vi ứng xử áp dụng vào việc tiếp xúc giữa người với người. Kỹ năng mềm là những kỹ năng có lien quan đến việc hòa mình vào cuộc sống hay tương tác với xã hội cộng đồng tập thể hoặc tổ chức

     1.2. Tầm quan trọng của kỹ năng mềm

- Trong cuộc sống, kỹ năng mềm là điều vô cùng quan trọng giúp cho con người có thể nhanh chóng hòa nhập và nắm bắt mọi yếu tố thiết yếu của cuộc sống. Những kỹ năng mềm chính là thứ vũ khí giúp cho con người đi sâu vào cuộc sống, nắm bắt rất nhiều mối quan hệ và chinh phục mọi giới hạn cùng với kỹ năng cứng, kỹ năng mềm tạo thành một bộ đôi hoàn hảo giúp con người sống và làm việc có ý nghĩa hơn. Bất cứ lĩnh vực nào trong đời sống xã hội và con người cũng đều cần tới kỹ năng mềm cần thiết: các kỹ năng mềm trong công việc, kỹ năng mềm trong giao tiếp.

- Kỹ năng mềm đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của mỗi con người. Những người luôn chú trọng áp dụng các kỹ năng mềm vào cuộc sống cũng như trong công việc của mình thường là những người thành công. Kỹ năng mềm không mang tính chất chuyên môn, không thể sờ nắn, không thể nhìn thấy nhưng nó biểu hiện trong cách ứng xử, hành vi. Nó quyết định một con người trở nên như thế nào. Kỹ năng mềm có sự ảnh hưởng lớn đến sự thành bại của con người trong sự nghiệp cũng như trong cuộc sống.

     1. 3. Các loại kỹ năng mềm quan trọng.

Kỹ năng tự tin, ý chí chiến thắng

Kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng làm việc nhóm

Kỹ năng tư duy sáng tạo.

Kỹ năng tiếp nhận và học hỏi

Kỹ năng thúc đẩy bản thân và dẫn dắt người khác

Kỹ năng thiết lập và thực hiện mục tiêu.

Kỹ năng tổ chức công việc và quản lí thời gian.

Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề.

     II. Cơ sở thực tiễn

     2.1. Thực trạng

     a. Học sinh:

- Rất nhiều học sinh Việt nam có kết quả tốt trong quá trình học tập trên ghế nhà trường, nhưng khi tốt nghiệp đi làm vẫn chưa đạt được thành công như mong muốn bởi các em còn thiếu những kỹ năng mềm nhất định mà công việc đòi hỏi.

- Học sinh cấp THCS của chúng ta cũng đang gặp nhiều vấn đề trong quá trình học tập và rèn luyện: những xung đột với bạn bè trong giao tiếp, chán nản, chưa có phương pháp học tập tự giác và chủ động, những phản ứng tiêu cực với những vấn đề ở tuổi dậy thì. Tất cả là do các em chưa được trang bị và rèn luyện những kỹ năng mềm cần thiết cho lứa tuổi của mình.

     b. Giáo viên:

- Giáo dục và rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh chưa thực sự được quan tâm và chú ý trong quá trình giảng dạy của giáo viên.

- Giáo viên- đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chuyên trách ít được cập nhật với những tài liệuhay đào tạo một cách bài bản chính thống về giáo dục và rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh. Thậm chí kỹ năng mềm của giáo viên cũng chỉ được tích lũy trong quá trình tự học tập và trau dồi.

     c. Gia đình:

- Nhiều phụ huynh đưa con đến trường với mong muốn con được giáo dục và học tập tốt để có nghề nghiệp tốt và tương lai vững vàng. Tuy nhiên yếu tố để có được tất cả điều đó chính là trang bị kỹ năng mếm thiết yếu cho con em mình thì họ lại chưa quan tâm tới.

Các nhà xã hội học, các nhà tuyển dụng và những người giàu kinh nghiệm đều khẳng định: Cách duy nhất để trau dồi và rèn luyện kỹ năng mềm là luyện tập học hỏi, thường xuyên tạo ra một phản xạ tức thời mỗi khi gặp các tình huống cần thiết. Và không ở đâu xa, các em có thể học tập và rèn luyện thong qua các công việc hàng  ngày trong học tập và sinh hoạt ở nhà và ở trường và ở chính môi trường xung quanh các em.

     2.2.Khảo sát thực tế:

- Năm học 2016- 2017, khi tôi nhận lớp chủ nhiệm, đa số các em tiếp thu chậm. Các em chưa có khái niệm làm việc nhóm. Một vài em tiếp thu khá và có khả năng tự học nhưng không có thái độ hợp tác, chia sẻ với các bạn trong tổ nhóm. Nhiều em nhút nhát, tự ti. Các em không sẵn sang tham gia vào các hoạt động chung của lớp, không bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình trước tập thể.

- Khi đó, kĩ năng giao tiếp và kỹ năng quản lý cảm xúc của các em gần như không có. Nhiều em có những phản ứng rất tiêu cực trước những câu trêu đùa của các bạn trong lớp: nổi nóng, giận dỗi và dễ gây xích mích với các bạn.

- Với các môn học khó hay với những thầy cô giáo luôn có yêu cầu cao về nề nếp học tập, rèn luyện, các em tỏ ra không thích và có những biểu hiện tiêu cực.

- Trong các hoạt động tập thể hay các giờ HĐNGLL ờ học kì I lớp 6, các em không chủ động tham gia vào các hoạt động. Khi đó tôi- giáo viên chủ nhiêm của lớp hoàn toàn chủ động: lập dự án, lên kế hoạch, chuẩn bị nội dung.

Cần phải có những giải pháp nào để thay đổi tình trạng trên?

     III. Các kỹ năng mềm cần giáo dục và rèn luyện cho học sinh cấp THCS

     3.1. Kỹ năng bảo vệ và tự phục vụ bản thân

      Đây là kỹ năng quan trọng đầu tiên. Ai cũng cần có những nhận thức cơ bản về chính bản thân mình, về các kỹ năng tự vệ khi ở nhà, ngoài đường biết tự chăm sóc cá nhân. Với các em học sinh cấp THCS việc biết tự chăm sóc bản thân là một kỹ năng đặt lên trên hết. Ở lứa tuổi dậy thì, các em cần có kỹ năng tôn trọng cơ thể mình, đưa ra những quy định và các hành vi an toàn lành mạnh.  Cần hình thành kỹ năng có trách nhiệm, đạo đức và bảo vệ bản thân.

     3.2. Kỹ năng quản lý cảm xúc

     Với kỹ năng này, các em hiểu hơn về cảm xúc của bản thân mình để kiểm soát bản thân khỏi những cơn giận dữ bốc đồng và thiếu suy nghĩ. Ngoài ra, các em cũng sẽ biết cách thong cảm chia sẻ. Ở độ tuổi cấp THCS là độ tuổi cảm xúc thay đổi thất thường nhất, việc giáo dục và rèn luyện kỹ năng quản lý cảm xúc giúp các em điều chỉnh cảm xúc của mình. Các em nhận ra những phản ứng hợp lý trong hoàn cảnh thích hợp đồng thời có thể kết nối những suy nghĩ cảm xúc và hành vi hợp lý.

     3.3. Kỹ năng làm việc nhóm

     Kỹ năng làm việc nhóm luôn vô cùng cần thiết trong bất kỳ môi trường làm việc học tập nào. Các em phải biết cách kết hợp hài hòa với các thành viên trong tổ nhóm để đạt kết quả cao nhất. Làm việc nhóm là cơ hội để các em thể hiện năng lực của mình, sự nhiệt tình của bản thân trong công việc chung. Làm việc nhóm giúp các em bổ sung các thiếu sót cho nhau và tự hoàn thiện bản thân. Những học sinh làm việc nhóm có kỹ năng tốt thường là những học sinh thành đạt trong công việc và nghề nghiệp sau này.

     3.4. Kỹ năng quản lý thời gian

     Kỹ năng quản lý thời gian rất cần thiết với tất cả mọi người không chỉ riêng với các em học sinh. Đây là cách tốt nhất để các em hình thành thói quen tốt về việc đúng giờ, sắp xếp thời gian biểu hợp lý và quản lý những kế hoạch nho nhỏ của mình. Các em đưa ra được kế hoạch quản lý và giải quyết các bài tập về nhà. Tự phân bổ thời gian thực hiện và khối lượng bài tập được giao giúp các em rèn luyện được kỹ năng lên kế hoạch và tổ chức thực hiện công việc. Khả năng quản lý thời gian cho các em sự cân bằng giữa học và chơi, học trong sách vở và các hoạt động thực hành trải nghiệm.

     3.5. Kỹ năng tự nhận thức

     Kỹ năng tự nhận thức là khả năng các em hiểu về chính bản thân mình, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân, biết nhìn nhận đánh giá đúng về sở thích tình cảm, thói quen, điểm mạnh điểm yếu. Kỹ năng tự nhận thức là nền tảng để các em ứng xử giao tiếp phù hợp và hiệu quả với những người xung quanh. Việc đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn các em đến những hạn chế, sai lầm hay thất bại trong cuộc sống và giao tiếp với những người khác. Rất nhiều cha mẹ học sinh tỏ ra lo lắng khi con mình nhận điểm số không như mong đợi. Hãy để các em tự theo dõi điểm số của mình để các em có nhận thức đúng về khả năng tư duy và học cách kết nối giữa sự chuẩn bị kế hoạch học tập và tổ chức để thực hiện giải quyết vấn đề các em đang gặp.

     3.6. Kỹ năng tư duy sáng tạo - học tập chủ động

     Việc học tập ở trường đã có sự thay đổi rõ rệt. Các em hoàn toàn chủ động trong giờ học, tự tìm hiểu bài, chuẩn bị bài ở nhà, chuẩn bị dự án cho bài học. Ngoài ra có rất nhiều phương tiện thông tin giúp các em chủ động cập nhật những kiến thức mới. Kỹ năng tư duy sáng tạo, học tập chủ động là tiền đề cho các em chủ động và linh hoạt trong công việc và sự nghiệp sau này.

     3.7. Kỹ năng giao tiếp

     Giao tiếp là kỹ năng được phát triển sớm nhất của mỗi con người. Giao tiếp tốt là phương tiện hiệu quả để xây dựng mối quan hệ với những người xung quanh. Ở lứa tuổi từ 12-16, các em giao tiếp với những người xung quanh hoàn toàn theo bản năng. Chính vì vậy, ở tuổi này các em hay gặp vấn đề với bạn bè, bố mẹ, thầy cô. Ví dụ: Chỉ vì một lời nói vô tình, một ánh mắt ngờ vực cũng có thể dẫn tới mâu thuẫn với bạn bè. Hay những lời yêu cầu nghiêm khắc của giáo viên cũng dẫn đến thái độ chống đối, tẩy chay môn học từ chính các em. Rèn luyện kỹ năng giao tiếp ứng xử giúp các em tránh được những xung đột không cần thiết với những người xung quanh hay không cảm thấy e dè trước môi trường mới. Rèn luyện kỹ năng giao tiếp luôn gắn với giáo dục các em ứng xử thân thiện, xây dựng ngôn ngữ dễ hiểu thông thường và tác phong chuẩn mực trong giao tiếp.

      Trong quá trình giáo dục và rèn luyện kỹ năng mềm cho các em, giáo viên cần lựa chọn các kỹ năng ưu tiên, thứ tự cho phù hợp với lứa tuổi và cần thiết với từng nhóm đối tượng khác nhau. Sao cho những kỹ năng này không những giúp các em tự tin trong môi trường của mình mà còn là nền tảng cho công việc và cuộc sống của các em sau này.

     IV. Các giải pháp thực hiện

     4.1. Chia nhóm học sinh trong lớp

     a. Chia nhóm học sinh theo khả năng, năng lực, năng khiếu, sở trường

     Với mỗi học sinh, các em có sở thích, khả năng khác nhau và thể hiện khả năng của mình rất khác nhau. Là giáo viên chủ nhiệm lớp, tôi cần hiểu đặc điểm khả năng, tính cách của từng em. Tổ chức ra các nhóm khác nhau: ban báo tường, hội TDTT, nhóm văn nghệ. Mỗi nhóm các em tự bầu ra nhóm trưởng hay hội trưởng của mình, tự xây dựng nội dung, phương thức hoạt động của nhóm mình.

     b. Chia nhóm theo cơ học

Nhóm lớn (tổ): 8 học sinh/nhóm

Nhóm nhỡ: 4 học sinh/nhóm

Nhóm nhỏ (cặp): 2 học sinh/nhóm

     Việc chia nhóm theo danh sách lớp, theo chỗ ngồi giúp tôi huy động tất cả học sinh của lớp vào các hoạt động chung kể cả những học sinh nhút nhát và những học sinh không thích hòa mình vào tập thể. Việc xếp nhóm theo hình thức này phải có sự tính toán của giáo viên sao cho mỗi nhóm có một nhân vật trung tâm (tổ trưởng – cán bộ lớp), có những học sinh có khả năng ở các lĩnh vực khác nhau và cũng có những thành viên ít tích cực trong các hoạt động chung. Sắp xếp hai bạn cùng bàn thường là hai bạn trái ngược nhau về tính cách, sở thích với mục đích giúp các em rèn luyện được kỹ năng thích ứng và kỹ năng hợp tác.

     4.2. Giao nhiệm vụ và đặt mục tiêu

     Cùng với các hoạt động tập thể của liên đội, chi đội phát động, giáo viên chủ nhiệm và cán bộ lớp đưa ra những kế hoạch hoạt động cụ thể cho từng nhóm và đặt mục tiêu cụ thể

     a. Các hoạt động do liên đội phát động và các giờ sinh hoạt chủ đề

     Nhiệm vụ sẽ được giao cho các nhóm - ban - hội của lớp. Các nhóm - ban - hội sẽ tự đặt kế hoạch nội dung mục tiêu của nhóm mình. Các em có cơ hội được rèn luyện kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng thiết lập và thực hiện mục tiêu đồng thời hoàn thiện kỹ năng làm việc nhóm.

Ví dụ:

- Trong cuộc thi làm báo tường chào mừng ngày 20/11, nhiệm vụ trao cho ban báo tường: các em lên kế hoạch viết bài, nộp bài, chọn bài, lên ý tưởng tiêu đề, trang trí báo. Ban báo tường chủ động mọi công việc để hoàn thành báo tường theo qui định.

- Cuộc thi ý tưởng sáng tạo của học sinh, nhiệm vụ trọng tâm giao cho Nhóm “các nhà thông thái”: các em bàn luận tìm hiểu qua thực tế các giờ lên lớp với các môn học các em yêu thích, tranh luận phản biện và đi tới thống nhất để tìm ra ý tưởng thực hiện. Trongquá trình thực hiện, các em có thể yêu cầu trợ giúp của các nhóm khác. Sản phẩm dự thi của các em là bộ bài chơi “các động từ bất qui tắc”. Ban báo tường- những em có khả năng vẽ sẽ giúp các bạn trang trí hình thức quân bài. Nhóm CLB Tiếng Anh tìm các động từ bất qui tắc và lập danh sách để các bạn in và trang trí lên những quân bài. Nhưng nhiệm vụ thuyết minh choy ý tưởng được giao cho nhóm MC bởi các bạn đó có khả năng thuyết trình rõ ràng nhất.

Nhiệm vụ được giao cho các nhóm trên nguyên tắc phù hợp với khả năng, sở thích sẽ giúp các em hình thành và phát huy được các kỹ năng nuôi dưỡng đam mê và phát huy tính sáng tạo của bản thân. Đó là kỹ năng mềm cần thiết và phải được nuôi dưỡng cho các em trong cuộc sống và sự nghiệp sau này.

     b. Các giờ sinh hoạt lớp, các hoạt động của chi đội và các giờ HĐNGLL

     Nhiệm vụ được giao về các nhóm lớn, nhóm nhỡ, nhóm nhỏ hay từng cá nhân tùy thuộc vào nhiệm vụ hay mục đích của từng hoạt động. Các giờ sinh hoạt lớp và HĐNGLL thường được thực hiện bởi các nhóm lớn (8 em). Các em được toàn quyền quyết định nội dung, cách thức, nhiệm vụ với từng thành viên. Đây là cơ hội để các em phát huy tinh thần tập thể, rèn luyện kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm. Những học sinh có năng lực sẽ tự tin thể hiện và khuyến khích được các bạn nhút nhát trong nhóm cùng tham gia. Các em rèn luyện được kỹ năng thúc đẩy bản thân và dẫn dắt các bạn cùng nhóm hướng tới mục tiêu chung. Đó là một kỹ năng quan trọng và được đánh giá cao.

Ví dụ:

- Trong giờ sinh hoạt “Lời chào theo em”,  4 nhóm có bốn cách đặt vấn đề khác nhau để cùng đưa ra một thông điệp chung. Nhóm 1 làm một tiểu phẩm. Nhóm 2 làm một bài luận. Nhóm 3 vẽ một bức tranh. Nhóm 4 là những câu châm ngôn và những bài thơ về lời chào.

- Trong buổi “Dạ hội năm mới” cán bộ bớp họp với các nhóm trưởng chuẩn bị nội dung chương trình cho dạ hội. Phân công cụ thể về các nhóm:  Nhóm 1-  chuẩn bị trang trí p. Nhóm 2- chuẩn bị đồ ăn-uống. Nhóm 3- chuẩn bị các trò chơi. Nhóm 4- các tiết mục văn nghệ, nhạc và loa đài.

Được trực tiếp tham gia vào các hoạt động ngoài trời hay các hoạt động trong giờ HĐNGLL mang cho các em niềm vui trong những sáng tạo của mình. Đồng thời cảm giác tự ti, e dè sẽ biến mất tự khi các em được cùng làm việc với các bạn trong nhóm của mình.

     4.3. Tạo cơ hội

     Giáo dục và rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh sẽ không bao giờ đạt được mục tiêu nếu chỉ qua lời nói của giáo viên hay là bài giảng trong lớp học. Bởi việc giáo dục và rèn kỹ năng đòi hỏi phải có các hoạt động thực tiễn bên ngoài phòng học. Chính vì vậy, cần phải tạo cho các em các cơ hội để rèn luyện kỹ năng mềm của mình. Các hoạt động tập thể, giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp và các buổi sinh hoạt ngoại khóa luôn là cơ hội tốt nhất. Tôi luôn cố gắng tìm và tạo cơ hội cho các em được rèn luyện kỹ năng mềm của mình qua các hoạt động thực tiễn: các hoạt động từ thiện, ủng hộ đồng bào lũ lụt, trẻ em nghèo, trẻ em đường phố, thăm và trao quà cho các em nhỏ ở bệnh viện K, tham gia các hoạt động thể thao: chạy giải báo Hà Nội mới, thi các trò chơi dân gian, tham gia hội chợ quê, phá cỗ trung thu, dạ hội cuối năm, bình chọn Nam vương của lớp nhân ngày 8/3…

     Những hoạt động đó luôn đem lại cho các em sự hứng thú đặc biệt, tạo cho các em sự tự tin cần thiết trong giao tiếp và cơ hội rèn luyện kỹ năng mềm của các em ngay từ khi còn là những học sinh cấp THCS.

     4. 4. Rút kinh nghiệm và đánh giá

     Sau bất kì một hoạt động hay một nội dung sinh hoạt nào, tôi  yêu cầu các em trả lời câu hỏi: Nếu làm lại lần sau em sẽ thay đổi nội dung hay hoạt động nào? Vì sao? Để trả lời câu hỏi đó các em đã tự rèn cho mình kỹ năng tự đánh giá. Các em có thể đánh giá xếp loại; A, B, C hoặc D cho từng nhóm, hay từng hoạt động. Các em sẽ rút kinh nghiệm để hoạt động lần sau hoàn thiện hơn.

      Một nguyên tắc tôi luôn tuân thủ, đó là không phê bình trước những thất bại của các em. Tôi đánh giá rèn luyện của các em qua sự cố gắng và tinh thần thái độ tham gia vào các hoạt động. Tôi không muôn các em mất đi kỹ năng tự tin- chiến thắng.              

     V. Kết quả

     Khác với việc học tập văn hóa,  rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh là cả một quá trình dài. Kết quả của nó cũng khó có thể thấy trong một vài tháng, một vài năm, mà có thể đến khi các em trưởng thành. Tuy nhiên, nhìn vào kết quả mà các em đạt được trong các hoạt động phong trào của trường trong 3 năm học vừa qua, cũng thấy được sự tiến bộ rõ rệt.

Năm học

Báo tường

Các trò chơi dân gian

Chạy giải báo

Hà Nội mới

Hội vui học tốt

2016-2017

Giải khuyến khích

Không có giải

Không có giải

Không học sinh

2017-2018

Giải ba

Giải ba

Không có giải

1 học sinh

2018-2019

Giải nhất

Giải nhất

Nhì đồng đội nam

3 học sinh

     Những con số trong bảng kế hoạch trên chưa phải là những con số đáng tự hào nhưng nó đã nói lên nhiều điều về sự cố gắng của các em trong việc rèn luyện kỹ năng mềm qua các hoạt động của tập thể. Cho dù lớp C chưa phải là lớp được xếp loại Xuất sắc. Các em chưa có thành tích học tập cao hơn các lớp khác. Nhưng các em luôn là một tập thể đoàn kết, gắn bó yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Các em biết động viên khích lệ hỗ trợ nhau trong giờ học cũng như các hoạt động ngoài giờ học. Chương trình học của lớp 8 ngày càng khó và yêu cầu ngày càng cao hơn, nhưng các em biết chủ động trong học tập, giải quyết những vướng mắc mà mình gặp trong quá trình học tập và rèn luyện. Những xích mích cá nhân giữa các em không còn xảy ra nữa. Các em không còn xin đổi chỗ với lý do ngồi cạnh một bạn không cùng sở thích như ngày đầu nữa. Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng điều chỉnh cảm xúc của các em được rèn luyện từng ngày đến trường.

  1. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

     Kỹ năng mềm ngày càng được chứng minh có ảnh hưởng lớn đến sự thành bại trong sự nghiệp của mỗi cá nhân. Trong xu thế phát triển của xã hội và của ngành giáo dục, việc dạy và rèn luyện kỹ năng mềm cho các em đang được gia đình và xã hội quan tâm nhiều hơn. Kỹ năng mềm giúp các em hòa mình vào cuộc sống tương tác với xã hội cộng đồng và có phản ứng hiệu quả trước những thách thức của cuộc sống, từ đó vươn lên mạnh mẽ để thành công. Với các em ở lứa tuổi Trung học cơ sở, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tổ chức quản lý thời gian sẽ giúp các em vượt qua những thách thức của tuổi mới lớn, không thấy mệt mỏi với những bài tập giáo viên giao về nhà. Các em biết chịu trách nhiệm về bản thân và các hành vi của mình trước tập thể, biết nuôi dưỡng đam mê trong các môn học và biết điều chỉnh cảm xúc cá nhân. Khi kỹ năng mềm của các em được rèn luyện thì những hiện tượng bạo lực học đường hành vi lối sống thiếu văn hóa nông nổi của học sinh sẽ giảm đi rất nhiều.

     Kỹ năng mềm có vai trò quan trọng trong sự thành công của mỗi con người, vì vậy việc rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh cấp Trung học cơ sở thực sự cần thiết và phải được coi trọng. Tôi thiết nghĩ, cần có thêm thời lượng nhất định trong chương trình giáo dục để rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh, đặc biệt là học sinh ở lứa tuổi cấp Trung học cơ sở. Cần cho các em nhiều hơn nữa cơ hội được rèn luyện kỹ năng mềm qua các hoạt động thực hành hay các hoạt động trải nghiêm thực tế ngoài trường học. Quan trọng hơn nữa, mỗi một giáo viên không chỉ là thầy cô dạy các em kiến thức  mà hãy là những nhà giáo dục luôn quan tâm tới việc giáo dục và rèn luyện cho các em kỹ năngmềm để trong mỗi quãng đường sau này của mình, các em tự tin và thành công bằng tri thức học được ở nhà trường và vững vàng nhờ những kỹ năng các em đã được rèn luyện.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

Bình chọn

Đánh giá thái độ tiếp công dân của cán bộ Một cửa quận