di tích danh thắng

Quảng trường Ba Đình lịch sử hồn thiêng dân tộc
Ngày đăng 18/08/2019 | 16:07

1. Hà Nội là trái tim của cả nước và Quảng trường Ba Đình là trái tim của Thủ đô Hà Nội. Quảng trường Ba Đình là khu di tích lịch sử đặc biệt quan trọng, nơi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 khai sinh Kỷ nguyên mới Độc lập, Tự do của nước Việt Nam hiện đại: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ năm 1010 Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long, nơi đây đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất đế đô ngàn năm văn hiến và của cả nước.

Nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc đế đến Thủ đô Hà Nội đều mong được đến Quảng trường Ba Đình lịch sử: Không gian hội tụ  Hồn thiêng dân tộc ta. Đó là các di tích lịch sử văn hóa hàng đầu của đất nước: Nhà Sàn và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đài Liệt Sĩ, Nhà Quốc hội, Chùa Một Cột, Khu di tích khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long, thềm Rồng và nền điện Kính Thiên, Thành Cổ và Cột Cờ Hà Nội. Ba Đình cũng là nơi hội tụ các cơ quan đầu não của Nhà nước ta: Phủ Chủ tịch nước, Thủ tướng Phủ, Trụ sở BCHTƯ Đảng, Lễ đài đón tiếp các nguyên thủ quốc gia v.v…, cho nên nơi đây còn được gọi là Trung tâm chính trị - văn hóa Quảng trường Ba Đình.

Khu đất hiện nay là Quảng trường Ba Đình thuộc quận Ba Đình, vốn ở vào khu vực phía Tây của Cấm thành trong Hoàng thành Thăng Long từ các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê Trung Hưng (1010 - 1788) cũng là trung tâm chính trị của đất nước trong hơn 750 năm. Nếu tính cả những dấu tích trị sở “An Nam đô hộ phủ” thời Bắc thuộc thì đất Ba Đình có lịch sử đến hơn 1.300 năm, là đất quan yếu vào bậc nhất của nước ta.

Trên đất thiêng châu ngọc nay là Quảng trường Ba Đình: Nhà Lý khởi dựng kinh đô Thăng Long (1010 - 1225) với 215 năm thịnh trị, quốc hiệu Đại Việt. Nhà Trần (1225 - 1400) với 175 năm đóng đô ở Thăng Long, quốc hiệu Đại Việt. Còn nhà Hồ (1400 - 1407) đóng đô ở thành Tây Đô, Thanh Hóa. Thời thuộc Minh (1414 - 1427) chúng gọi Thăng Long là Đông Quan. Nhà Lê (1428 - 1527) đóng đô ở Thăng Long 99 năm, đổi Đông Đô thành Đông Kinh. Nhà Mạc cũng đóng đô ở Thăng Long, gọi là Đông Đô (1527 - 1595) trong 66 năm. Vương triều Lê Trung Hưng (Lê - Trịnh) trong 196 năm (1592 - 1788) vẫn đóng đô ở Thăng Long. Cuối năm 1788 giặc Mãn Thanh chiếm Thăng Long, đầu năm 1789 vua Quang Trung đại phá 20 vạn quân Thanh xâm lược, giành lại Thăng Long. Sau đó, vào thời Tây Sơn và thời Nguyễn, mảnh đất Ba Đình, thành Thăng Long - Hà Nội vẫn có vai trò quan trọng, thường là nơi tiếp các đại sứ thần phương Bắc sang nước ta.

2. Khảo cổ học Việt Nam năm 2003 đã phát hiện ở khu đất phía Tây Hoàng thành Thăng Long (18 Hoàng Diệu) nhiền nền móng kiến trúc, di vật cung đình của các triều đại Lý, Trần, Lê. Núi Nùng và điện Kính Thiên thời Lê vẫn ở chính giữa Hoàng thành Thăng Long với trục chính tâm Đoan Môn - Kính Thiên - Bắc Môn. Đây cũng là nơi có Vườn Thượng Uyển, có nhiều cung điện Võ ban của triều đình và nhiều lầu các của Hoàng gia các thời Lý, Trần, Lê. Một số báu vật phát hiện được ở đây nói lên điều đó: nhiều bát cổ quí hiếm là đồ ngự dựng thời Lê có chữ Hán “Trường lạc”, “Trường Lạc khố”, “Trường Lạc cung”, là tên cung điện của Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hằng, vợ cả của vua Lê Thánh Tông, cũng là mẹ vua Lê Hiển Tông.

Vào thời Nguyễn, sau khi thực dân Pháp chiếm thành Hà Nội năm 1882, năm 1886 chúng phá dỡ điện Kính Thiên để xây nhà hai tầng của bộ chỉ huy pháo binh Pháp. Đầu thế kỷ XX chúng phá thành Hà Nội để xây các công sở của chính quyền thuộc địa và làm vườn hoa nhỏ gọi là Điểm tròn Puginier (Rond Point Puginier). Năm 1945, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, nơi này được gọi là Vườn hoa Ba Đình để nhớ lại cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đô hộ từ 9/1886 - 1/1887 ở ba làng có ba ngôi đình ở gần nhau: Thượng Thọ, Mỹ Khê, Mậu Thịnh, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.

3. Ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trên Lễ đài ở Quảng trường Ba Đình, chính vườn hoa Điểm tròn Puginier. Lễ đài được dựng bằng gỗ, bốn mặt phủ vải đỏ. Bắt đầu bằng Lễ chào cờ Tổ quốc - Cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, UBND thành phố Hà Nội đã đổi tên vườn hoa điểm tròn Puginier thành “Vườn hoa Độc lập”, ngày nay vẫn còn tên đường Độc lập trước Nhà Quốc hội. Thời tạm chiếm (1946 - 1954), theo quyết định số 138-ND ngày 28/2/1951, Thị trưởng thành phố Hà Nội lại đổi tên Điểm tròn Puginier cũ thành Vườn hoa Hồng Bàng. Sau chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, bộ đội ta tiếp quản Hà Nội, Vườn hoa Hồng Bàng lại được trả lại tên cũ là Vườn hoa Ba Đình, nơi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 mở ra Kỷ nguyên Độc lập, Tự do cho toàn thể dân tộc Việt Nam.

Cũng trên Quảng trường Ba Đình, 7 ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ngày 9/9/1969 tại Lễ truy điệu Người, trước 10 vạn đồng bảo Thủ đô, các tỉnh và 34 đoàn đại biểu quốc tế đến dự Lễ tang, đồng chí Lê Duẩn đã đọc Điếu văn và đọc Di chúc Bác Hồ, mọi người vô cùng xúc động lắng nghe từng lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu với toàn Đảng, toàn dân. Ngày nay, trước Lăng Bác Hồ là Quảng trường Ba Đình lịch sử, có thể chứa được 20 vạn người tham dự các lễ hội quan trọng nhất của đất nước ta.

Hội trường Ba Đình nằm trên Quảng trường Ba Đình được xây dựng từ năm 1961, là nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của Quốc hội, Đảng và Nhà nước. Ngày 17/3/1964, tại đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã họp Hội nghị Chính trị đặc biệt, một hội nghị Diên Hồng thời hiện đại, kêu gọi Đại Đoàn kết toàn dân chống Mỹ cứu nước. Hội trường Ba Đình cũng là nơi đã diễn ra kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Thống nhất đất nước. Nhà nước ta đang xây dựng Nhà Quốc Hội trên đất Hội trường Ba Đình trước đây.

4. Nhà Sàn Bác Hồ nằm cách không xa Quảng trường Ba Đình. Ngày nay là khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc Phủ Chủ tịch. Sau 9 năm kháng chiến gian khổ, ngày 19/12/1954, từ Việt Bắc, Bác Hồ trở về sống và làm việc tại ngôi nhà nhỏ trong Phủ Chủ tịch. Ngày 19/5/1958 Bác đến ở tại ngôi Nhà Sàn này. 15 năm Bác Hồ sống ở Nhà Sàn Phủ Chủ tịch (1954 - 1969) là những năm tháng đầy cam go, thử thách của cách mạng Việt Nam: cả nước chiến đấu chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc độc lập và tiến tới thống nhất toàn vẹn đất nước. Cũng tại ngôi Nhà Sàn này, Bác Hồ viết bản Di chúc với tâm nguyện: xây dựng “Nước Việt Nam Hòa bình, Thống nhất, Độc lập, Dân chủ và Giầu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Khu di tích Nhà Sàn Phủ Chủ tịch chính là biểu tượng Không gian Văn hóa Việt Nam, Không gian Văn hóa Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Bao trùm lên tất cả Không gian Thiêng Nhà Sàn là Trí Tuệ, Tình thương, sự Giản dị, Ý chí cách mạng, Tận tụy vì Dân, vì Nước, vì Nhân loại của Bắc Hồ. Đó là cảm nhận chung trong tâm tưởng mọi người Việt Nam và bạn bè quốc tế đến với Di tích này: “Chúng tôi vô cùng xúc động khi vào thăm nơi ở khiêm tốn của một trong những người đã làm nên lịch sử thế giới của thế kỷ XX này” (Đoàn đại biểu Quốc hội Bỉ - 4/2/1996(; “Quang cảnh vườn cây, ao cá, nhà sàn tạo cảm giác bình yên và thanh thoát cho du khách. Người sẽ luôn luôn là nguồn động lực tinh thần mãi mãi cho các thế hệ người Việt Nam” (Visune Shant, Thụy Sĩ - 11/4/1992).

5. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Quảng trường Ba Đình là tác phẩm sáng tạo thiết kế kiến trúc nghệ thuật và kỹ thuật của các nhà kiến trúc Việt Nam và Liên Xô. Lăng có hình vuông, bốn mặt lăng và hàng cột vuông đều có ốp đá hoa cương màu xám xẫm. Bệ Lăng vững chắc, trang nghiêm, giản dị; Lễ đài và thân Lăng đặt thi hài Bác Hồ. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi công ngày 2/9/1973 và khánh thành ngày 2/9/1975. Cây trồng quanh Lăng và Quảng trường là các cây quí, hoa đẹp được mang về từ khắp ba miền Nam, Trung, Bắc, tạo nên màu xanh tươi suốt bốn mùa trong năm. Lăng Bác Hồ là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt của dân tộc ta. Hàng chục triệu nhân dân ta và bạn bè quốc tế đã đến Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Quảng trường Ba Đình là nơi hội tụ Hồn thiêng ngàn năm văn hiến của dân tộc ta với chùa Một Cột, Nhà Sàn, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội và Bộ Quốc phòng, là nguồn lực tinh thần vô giá đối với dân tộc ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và hội nhập kinh tế quốc tế.

Phòng Văn hóa và Thông tin